Không có ''bản Kinh'' Truyện Kiều do Vua Tự Đức đưa in

Chú ý:Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .

Bản Kinh lâu nay được hiểu là bản Truyện Kiều do vua Tự Đức sửa chữa và cho khắc in năm 1871. Từ việc nghiên cứu lại bài "Tổng từ" của Tự Đức nói về Truyện Kiều tới đưa ra những bằng chứng văn bản học, Đào Thái Tôn chứng minh bản Kinh thực chất chỉ là những bản chép tay có nguồn gốc trong kinh đô Huế.

Vấn đề Tự Đức sửa chữa lại bản Truyện Kiều của Nguyễn Du để đưa in vào năm 1871 (bản Kinh) là vấn đề rất đáng ngờ. Bởi vì, ngày xưa, bất cứ việc gì nhà vua làm cũng được xem là rất hệ trọng. Từ xem sách đến ăn ngủ, sinh hoạt hàng ngày đều được quan Khởi cư chú ghi chép. Nên việc vua sửa chữa để cho "tái bản" Truyện Kiều thực sự chẳng những là sự kiện có tầm văn hóa lớn lao mà còn mang ý nghĩa chính trị. Bởi vì, như ta đã biết, Nguyễn Du là con em một dòng họ đời này nối đời khác, nặng ơn mưa móc của nhà Lê, nên tuy làm quan với nhà Nguyễn, nhưng ông luôn mặc cảm tự ti với thân phận "hàng thần lơ láo", đến nỗi vua Gia Long phải trách quở (xem Tiểu sử Nguyễn Du). Việc Tự Đức tự tay sửa chữa cho in Truyện Kiều, nếu có hẳn đã được các sử quan sốt sắng ghi lại như ghi nhận lượng bao dung trời bể của Hoàng Thượng thánh minh với các cựu thần nhà Lê, chứng tỏ Hoàng đế triều Nguyễn không hề nghi kỵ, thành kiến gì với những phần tử trí thức trong các triều vua trước, mà ngược lại còn tin dùng và yêu chuộng cả văn thơ của họ nữa.

Mặt khác, việc cho in Kiều còn chứng tỏ Tự Đức rất chuộng thơ Nôm. Vậy thì ngoài khóc vợ "Ới Thị Hằng ơi"... được xem như giai thoại văn học, thơ văn chữ Nôm Tự Đức còn gì nữa không? Có bài nào trực tiếp nhắc tới Truyện Kiều của Nguyễn Du không?

Tôi vẫn nghĩ việc Tự Đức cho in Truyện Kiều, nếu có, phải có những chỉ dụ cụ thể - nhất là, như ta biết, việc làm bài Tổng từ và các bài thơ đề vịnh lại diễn ra ở Phu Văn lâu là nơi nhà vua thường ban bố các chỉ dụ quan trọng thì hẳn là khi sách in xong, nhà vua sẽ "ban tứ" cho quần thần mỗi người một bản. Vậy thì tại sao cho đến nay, từ bắc vào nam, từ trong nước ra nước ngoài, không sao thấy được một bản? Vả chăng, năm 1871 cũng chính là năm ra đời bản Phường của nhà Liễu Văn đường. Bản Phường này hiện được lưu giữ tại trường Sinh ngữ Đông phương Paris, ký hiệu M.N.IX. 12 . Nhiều nhà nghiên cứu Truyện Kiều ở Việt Nam cũng nói là có bản này. Đây là bản Phường cổ nhất mà hôm nay chúng ta có được, rất đáng quý; nhưng nếu so với sách Tự Đức cho in cùng năm (1871), thì bản này vẫn chỉ là loại sách "hàng chợ", sách bán ở phố phường chứ làm sao sánh được với sách Vua cho in? Mà Vua đã cho in thế tất các quan to triều Tự Đức như các vị Cao Xuân Dục (1842-1923), Đặng Xuân Bảng (1827-1910), Nguyễn Đức Đạt (1825-1887)... đều được vua "ban tứ" cả - hay ít ra các ông cũng tìm cách mà có vài bản chứa trong thư viện của gia đình. Bởi vì, những vị trên đây không chỉ là quan to mà còn là những học giả suốt đời lưu tâm đến trước thuật và tàng thư - Như Cao Xuân Dục, làm quan đến Học bộ Thượng thư thời Tự Đức (1877) nhưng lại cũng rất đam mê sưu tầm sách. Đam mê đến mức về hưu rồi mà chỉ lo mất sách, nên đã cho thuê người chép mỗi bộ làm năm bản, giao cho mỗi người con giữ một bản để bảo tồn về sau . Các thế gia vọng tộc ở khắp "nước Nam" này hẳn không thiếu những người yêu sách vở, yêu Truyện Kiều, chả lẽ lại không tìm mua hay kiếm cách tìm mượn để chép lại được bản Kiều do "Vua in" để đến nỗi hôm nay "hòn chì thì mất hòn đất thì còn" như thế này sao?

Ấy là chưa kể đến các lầu tàng thư của các vua nhà Nguyễn, các tủ sách của những gia đình tôn thất ở Huế, các tủ sách tư gia từ nam đến bắc, trong và ngoài nước...

* * *

Từ những băn khoăn trên đây, tôi quay về với công trình Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang để tìm hiểu lại cái lý do mà nhờ đó ông cho rằng Tự Đức cho in bản kinh Truyện Kiều vào năm 1871, thì thấy rằng: Cơ sở của thuyết này chỉ là mấy câu đầu trong bài Tổng từ của Tự Đức, được Nguyễn Thạch Giang giới thiệu, phiên âm và dịch như sau:

"Bài Tổng từ của Tự Đức nói về Truyện Kiều viết năm 1871 nhan đề Dực-tông Anh hoàng đế ngự chế tổng từ, mở đầu bằng những câu:

Hương phố yên ba tam nguyệt thiên,
Phần lô nhàn độc Thanh Tâm biên.
Thị biên Bắc nhân Thánh Thán trước,
Dịch âm ngã quốc Nguyễn Tiên Điền.
Cận lại danh sơn phong vũ thực;
Hoa Đường bình bản vô lưu truyền.
Thích kim đài các thừa nhàn hạ,
Bất nhẫn giai thoại không hàn yên.
Ngẫu ư cố lộc đắc toàn giản,
Truyền thần tả chiếu tương trùng thuyên


(Bến sông Hương vào tiết tháng ba đầy sương khói. Đốt lư trầm nhàn nhã đọc truyền Thanh Tâm. Sách này người Phương Bắc là Thánh Thán làm, Nguyễn Tiên Điền diễn âm sang tiếng nước ta. Gần đây sách trứ danh (?) như ngọn núi bị gió mưa làm cho hao mòn, nên bản Hoa - đường không còn lưu truyền (như trước). Nay nhân nơi đài các có nhàn rỗi không nỡ để cho câu chuyện hay phải lạnh lùng theo mây khói. Và nhân tình cờ tìm được toàn quyền trong bồ sách mà theo đó toan cho khắc in).

Từ chú thích này, sau khi kết hợp với những câu văn dịch từ bài Tổng thuyết của Minh Mạng (1830), Nguyễn Thạch Giang nhận xét: "Như vậy, bản Hoa đường Phạm Quý Thích từ năm 1830 đã phải tìm ở nhà in họ Phạm mà cho khắc in lại. Đến năm 1871, bản Hoa - đường cũng hiếm, may mà tìm được... Chắc bản này sau Đào Nguyễn Phổ mang từ Kinh ra biếu Kiều Oánh Mậu" (Sách đã dẫn - chú thích trang 86)).

Như chúng tôi đã phân tích ở phần viết về bản Phường , không có cơ sở nào để dịch hai chữ "Hoa-đường" thành "Bản Hoa-đường" hay "Bản của Hoa-đường", rồi chuyển thành "bản Hoa-đường Phạm Quý Thích" mang hàm ý bản "Truyện Kiều" do Phạm Quý Thích đưa in.

Chúng ta cũng đã chứng minh rằng "Hoa Đường" mà Minh Mạng nhắc liền với "Thánh Thán" có nghĩa là Kim Vân Kiều thuộc "Thánh Thán" ngoại thư "do Thanh Tâm Tài Nhân biên thứ, Quán Hoa Đường bình luận...

Như vậy cuốn sách Minh Mạng đọc năm 1830 chính là cuốn Kim Vân Kiều truyện do Quán Hoa Đường bình luận. Bản sách mà năm 1871 Tự Đức tìm trong bồ sách cũ thấy được "toàn giản" chính là bản sách này. Tự Đức toan "trùng thuyên" (khắc in lại) là khắc in lại bộ sách này chứ đây phải Truyện Kiều của Nguyễn Du?

Bây giờ ta đọc lại đoạn văn của Tự Đức - dù cho lời dịch của Nguyễn Thạch Giang còn chưa chính xác - ta vẫn thấy rõ ràng Tự Đức đang đọc Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc: "Đốt lư trầm nhàn nhã đọc Truyện Thanh Tâm. Sợ thiên hạ hiểu lầm, ông phải nói thêm: "Sách này người phương BắcThánh Thánh viết". Còn như câu thứ ba "Nguyễn Tiên Điền dịch âm sang tiếng nước ta" chỉ là câu nói "đèo" thêm vào để làm rõ thêm chữ này, chữ Thanh Tâm, Thánh Thán (có giá trị như một câu chú thích ngày nay) mà thôi.

Có một chứng rất hay ở đây mà Nguyễn Thạch Giang bỏ sót không quan tâm tới, là chữ "bình" trong câu "Hoa Đường Bình bản vô lưu truyền". Chính nhờ câu văn này của Tự Đức, nhờ chữ "bình" này, mà ta thấy Tự Đức đã nói rõ hơn Vua Minh Mạng về cuốn sách ông đang đọc khi làm bài Tổng từ: Cuốn sách Tự Đức đang cầm trên tay đó, chính là bản Kim Vân Kiều truyện do Quán Hoa Đường Bình luận, chứ không thể là cuốn sách nào khác nữa. Bởi vì, Bìnhtên một thể văn bình luận. Trong tác phẩm "Văn thể minh biện", Từ Sư Tăng đời Minh giải thích rõ: Thể bình xuất hiện từ lâu: Đối với Sử ký của Tư Mã Thiên, thì các lời "bình" này chính là lời văn đề là "Thái sử công viết"; đối với Tây Hán thư (thường gọi là Hán thư) của Ban Cố, thì lời "bình" này được gọi là lời "tán"; đối với Đông Hán thư (thường gọi là Hậu Hán thư) của Phạm Việp, thì lời "bình" gọi là lời "luận". Kỳ thực tất cả tên gọi đó, đều là lời bình cả, đều xếp vào thể văn bình luận cả. Nhưng nếu kể tác phẩm đầu tiên đưa ra thể bình này, thì phải kể đến Tam Quốc chí. Những sách có in kèm theo lời bình luận như thế, gọi là "bình bản".

Vậy chữ "bình bản" mà Tự Đức dùng đây, phải hiểu theo nghĩa đó. Chỉ có Kim Vân Kiều truyện với lời bình của Quán Hoa Đường đặt ở đầu mỗi hồi mới xứng đáng với những chữ "Hoa Đường bình bản" mà Tự Đức dùng.

Một cuốn sách mà đã đề chữ "bình bản" tức là phải có lời bình hệ thống của ai đó (có thể một hay nhiều người). Chẳng hạn như khi đọc tập thơ Đỗ Phủ mang tên Đỗ Công bộ tập được in vào năm Giáp Ngọ niên hiệu Đại Quang nhà Thanh (1834) thì ta thấy họ đã in liền vào các trang thơ lời bình luận của năm nhà; nên ở bìa sách họ ghi rõ là "Ngũ gia bình bản" và đề tên từng người bình luận.

Đọc toàn bộ bài Tổng thuyết của Minh Mạng cũng như bài Tổng từ của Tự Đức, ta không hề thấy hai ông vua này nhắc một lời tới Nguyễn Du với tư cách là tác giả Đoạn trường tân thanh. Ngay tên nhân vật, các ông cũng ghi theo sách Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc.

Đọc đến 20 bài vịnh 20 hồi Thanh Tâm tài tử của Tự Đức, ta mới càng thấy rõ: trong 20 bài thơ chữ Hán này, Tự Đức bám chặt theo 20 hồi của Kim Vân Kiều truyện chứ ông đâu có đọc Đoạn trường tân thanh? Chẳng những vậy, ở mỗi bài, Tự Đức đều chép nguyên si hai câu thơ mở đầu các hồi của Kim Vân Kiều truyện lên đầu các bài thơ chữ Hán của ông. Chẳng hạn:

- Đệ nhất hồi:

Vô tình hữu tình mạch lộ điếu Đạm Tiên
Hữu duyên vô duyên phách không ngộ Kim Trọng


Cứ như thế, 20 bài vịnh của "Đức Vua" được chép không sót một chữ nào của hai câu mở đầu mỗi hồi trong "Mục lục sách Vân Kiều truyện". Như thế phỏng có thể bảo là Tự Đức đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du không? Rõ ràng là, khi cầm bút viết "Tổng thuyết" hay "Tổng từ", Minh Mệnh và Tự Đức đã viết là viết về Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc, chứ không hề có ý đề vịnh gì tác phẩm của Nguyễn Du. Tôi không nghĩ rằng Minh Mệnh, Tự Đức không đọc Nguyễn Du. Nhưng nếu dùng bài Tổng thuyết, Tổng từ của các ông như một tư liệu để chứng minh rằng Tự Đức đã đề vịnh, cho in "Truyện Kiều" là không thuyết phục.

Vậy chúng ta có thể nói chắc chắn rằng: Không có việc Tự Đức cho in Truyện Kiều vào năm 1871. Tức là không hề có bản Kinh do Tự Đức in. Đó chỉ là truyền thuyết mà thôi.

Tại sao có sự nhận lầm này? Theo tôi sự lầm này khởi đầu từ Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim. Trong cuốn Truyện Thúy Kiều (Đoạn Trường tân thanh), hai ông viết:

"Hiện nay tập nguyên văn của tác giả làm ra thì không tìm thấy nữa, chỉ có hai bản khác nhau ít nhiều, là bản Phường, in ở phố Hàng Gai, Hà Nội, và bản Kinh của vua Dực Tôn bản triều đã chữa lại". "Bản Phường là bản của ông Phạm Quý Thích đem khắc in ra trước hết cả. Ông hiệu là Lập Trai, người làng Huê Đường, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ về cuối đời Lê, cùng với tác giả là bạn đồng thanh tương khí, cho nên khi quyển truyện này làm xong, thì tác giả đưa cho ông xem. Chắc cũng sửa lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả".

Chúng tôi sẽ trình bày sự ước đoán về cái lý do mà do đó, Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim đã hiểu lầm. Nhưng ngay ở đây, chúng tôi chú ý tới câu các ông viết khi giới thiệu bản Phường: "là bản của ông Phạm Quý Thích đem khắc in ra trước hết cả" và chữ "chắc cũng" mà các công đã dùng. Câu văn nhà biên khảo ở đây nhuốm khói sương của huyền thoại, bởi ta thấy các ông không có ý nói rõ là trên tay các ông có hay không bản in của Phạm Quý Thích, càng không nói rõ là bản in năm nào mà chỉ nói "Bản Phường là bản của ông Phạm Quý Thích đem khắc in ra trước hết cả", khiến chúng tôi được phép ngờ rằng: Có thể là vào những năm 20 của thập kỷ này, hai vị không hề có bản "in ra trước hết cả ấy" mà trước mặt bàn làm việc của các vị chỉ là năm, sáu bản Phường mà bản in sớm nhất là bản năm 1871 chẳng hạn. Do truyền thuyết, lại thấy các bản Phường đều có bài thơ như bài Đề từ của Phạm Quý Thích, nên các vị thành thực mà tin rằng đó là những bản in lại, in theo bản của Phạm Quý Thích nhưng "chắc cũng sửa lại một vài câu".

Tiện đây, cũng nên nói thêm rằng: Trong tình hình tư liệu hiện nay, chúng tôi cũng xin được phép nghi ngờ cả đôi câu đối chép trên đầu cuốn Đoạn trường tân thanh mà Đào Nguyên Phổ và cả Kiều Oách Mậu đều tin đó là đôi câu đối Tự Đức viết cho Truyện Kiều của Nguyễn Du . Chúng tôi nghĩ rằng: do yêu thích Kiều, vị công tử họ ngoại nhà vua kia đã cất công chép một bản để dùng. Trong khi đó, vì nghe nói Tự Đức có thơ văn để vịnh Kiều, ông ta mới tìm đọc để mong có thể mượn một vài đoạn thơ văn của nhà vua án lên đầu tập sách cho thêm phần trang trọng. Nhưng khi đọc mãi rồi, ông ta thấy rõ là bài Tổng từhai mươi bài thơ chữ Hán của Tự Đức rõ ràng là đề vịnh Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc nên không thể mượn dùng được. Duy chỉ còn đôi câu chung chung trên đây là khả dĩ có thể sưu tầm để chép vào đầu tập Truyện Kiều như lưu giữ lại chút hơi hám thơ vua, tăng phần nhã thú cho cuốn sách! Đọc câu đối này, ai bảo là Tự Đức vịnh Kim Vân Kiều truyện chưa hẳn đã là sai; ai bảo Đức vua vịnh Đoạn trường tân thanh thì nghe ra cũng phải! Câu đối vốn đã lập lờ lằng nhằng như thế thì hiểu sao chẳng được!

Kịp đến khi, vào năm 1902, bản in Đoạn trường tân thanh do Kiều Oánh Mậu biên soạn chú thích được công bố, đã in lại cả đôi câu đối kia, nên Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim đã tin ngay rằng bản "Kiều" đó là do "Vua Dực Tôn bản triều chữa lại"! Ta rất cần chú ý rằng: khi giới thiệu bản Kinh mà "Vua Dực Tôn bản triều chữa lại" này, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim cũng không hề nói đó là bản in hay bản chép tay. Các ông - vào năm 1925, cũng không hề nhắc tới bản khắc ván vào năm 1902 của Kiều Oánh Mậu - bản sách này chắc chắn các ông đã chịu ảnh hưởng khá nhiều! Ta lại nên để ý rằng, đến năm 1957, khi một mình làm lại Truyện Kiều cho Nhà xuất bản Phổ thông, Bùi Kỷ cũng không hề nhắc tới Truyện Thúy Kiều do ông và Trần Trọng Kim cho in năm 1925 đã trở nên nổi tiếng và tái bản nhiều lần. Ông cũng không hề nhắc tới bản Phường, bản Kinh "do vua Dực Tôn bản triều chữa lại" mà cho biết: bản in ra bây giờ (1957) là theo bản chữ Nôm của ông nghè Mai cháu cụ Nguyễn Du để lại. Trong bản này còn chép cả những lời phê của cụ Phạm Quý Thích(?) và cụ Nguyễn Lượng vào từng câu trong truyện".

Ta cũng thấy ở lần xuất bản này (1957), không rõ căn cứ vào đâu mà Bùi Kỷ viết: các bản Kiều in ra từ trước tới nay, thì "Kinh bản do Tự Đức sửa chữa, hoàn toàn xuyên tạc"?

Bằng tất cả những chi tiết trên đây, chúng tôi cho rằng khi biên soạn Truyện Thúy Kiều (1925) chắc chắn Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim có trên tay bản Kiều Oánh Mậu (1902) mà các ông không tiện nhắc tới. Và do đó tôi cũng không hiểu các ông có trên tay bản Kinh do "vua Dực Tôn bản triều chữa lại" hay không, hay là các ông cũng chỉ hình dung bản Kinh đó qua Kiều Oánh Mậu như các nhà nghiên cứu từ hơn ba chục năm qua vẫn phải "hình dung"?

Kịp đến sau năm 1965, sau khi phát hiện ra tập Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề vịnh tập biên , bắt đầu từ Nguyễn Thạch Giang, với những chi tiết khai thác từ bài Tổng thuyết của Minh Mạng (1830) và Tổng từ của Tự Đức (1871), vấn đề bản Phường (in) và bản Kinh (in năm 1871) đã có xu hướng dần dần như được khẳng định, ngày càng chắc chắn hơn. Nói dần dần, vì khi viết về điều này, Nguyễn Thạch Giang vừa nêu lên ở chính văn, lại vừa nhấn nặng ở phần chú thích như là cung cấp thêm những tư liệu mới để người đọc chú ý nghiên cứu sâu hơn chút nữa, chứ xem ra, ông chưa hoàn toàn khẳng định...

Theo tác giả, vì không có một "bản Kinh" do Vua Tự Đức sửa chữa và đem in nên tỷ lệ dị biệt giữa các bản Truyện Kiều rất thấp. Điều này đã góp phần giải tỏa sự băn khoăn của một số người vẫn muốn tìm một bản Truyện Kiều "gần với nguyên tác nhất", để vững tin vào độ chính xác của những bản Truyện Kiều hiện nay.

Vậy "bản Kinh" là gì?

Cách đây 95 năm, khi Kiều Oánh Mậu đưa ra hai khái niệm "bản Kinh" và "bản Phường" thì chắc chắn hai chữ bản Phường là chỉ các bản in ở Phường Hàng Gai Hà Nội. Còn bản Kinh ông không "định nghĩa" là gì, không nói là bản in hay bản chép tay, càng không nói bản này có phải do Tự Đức in hay sửa chữa gì không. Trong bài Phàm lệ, hai chữ "Kinh bản"" mà ông dùng, chúng ta dịch là bản Kinh, kết hợp với Lời tựa của Đào Nguyên Phổ, chỉ mang hàm ý là bản Kiều mang từ Kinh đô Huế ra. Đào Nguyên Phổ viết: Vào năm Ất Mùi (1895), ông đang học ở Kinh, "hữu thích lý công tử huề lai tân bản kiến tặng nhan viết "Đoạn trường tân thanh"" (có công tử họ ngoại nhà vua cầm đến một bản Kiều mới, nhan đề "Đoạn trường tân thanh").

Ta lại cần chú ý tới bản Kiều "mới" mà Đào Nguyên Phổ dùng, Đào Nguyên Phổ gọi là "bản mới" thì tất nhiên không thể nào là bản in hay chép tay từ năm 1871 được! Bản "mới" này chỉ có thể hiểu là bản mới chép (hay là mới đây tức là đã được chép lại, biên soạn lại "mới hơn", quy củ hơn bản cũ ("cựu bản") như bản Phường năm 1871 chẳng hạn. Vì ở các bản Phường cũ kia, chỉ chằn chặn lời thơ Kiều thôi, chứ làm gì có chú thích bình luận cụ thể các câu chữ trong Kiềủ).

Hiểu như thế, ta mới giải thích được tại sao từ Kiều Oánh Mậu (1902) đến Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim (1925) rồi Lê Văn Hòe (1953) đều nói tới một "bản Kinh" khi biên khảo Kiều mà xét kỹ, cái gọi là "bản Kinh" các ông dùng lại khác nhau (xin so sánh qua chú thích về bản Kinh trong các cuốn sách của Kiều Oánh Mậu và Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim chẳng hạn). Như thế thì bản Đào Nguyên Phổ tặng Kiều Oánh Mậu năm 1898 là bản Kinh. Bản của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim hay Lê Văn Hòe chắc là cũng mượn được bản chép tay của ai đó từ trong Kinh nên các ông cũng gọi là "bản Kinh". Và như vậy bản chép tay của gia đình Nguyễn Doãn Cử ở Thái Bình (1821 - 1890) làm quan trong phủ Tôn nhân, đời Tự Đức (1848 - 1883) mà chúng tôi đã giới thiệu, hiện còn lưu giữ được, cũng là "bản Kinh". Có nghĩ như thế mới thấy vì sao từ Kiều Oánh Mậu đến Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim, rồi Lê Văn Hoè, không một ai miêu tả gốc gác bản Kinh trên tay các ông là thế nào - Dù chỉ là một thông tin tối thiểu: bản in hay bản chép tay!

Cho nên theo tôi, bản Kinh của Kiều Oánh Mậu chỉ là bản chép tay của một công tử họ ngoại nhà vua tặng Đào Nguyên Phổ vào năm 1895.

Tại sao nói thế?

Chi tiết sau đây chứng minh điều đó: Như Kiều Oánh Mậu đã ghi rõ ngay ở bìa sách bản in (1902) là: bản "Đoạn trường tân thanh" này có lời bình viết mực đen của Vũ Trinh, lời bình viết mực son của Nguyễn Lượng. Thì ra, bản sách Đào Nguyên Phổ đem ở Kinh về tặng ông có hai mầu mực của hai người viết lời bình trong đó. Điều này chỉ có bản viết tay mới làm được, chứ kỹ thuật in của ta ngày đó, thể hiện làm sao? Bằng cớ là bản in của Kiều Oánh Mậu đề là đề vậy, chứ các lời bình đâu có được in mầu?

Tôi tò mò đi kiểm tra bằng cách tìm đọc bản tin tập thơ Diệu Liên tập của công chúa Mai Am (con gái thứ 25 vua Minh Mạng; ký hiệu VHv. 685, 686,687) được in vào năm Tự Đức Đinh Mão (1867), bìa sách cũng ghi rõ năm mầu mực của các nhà phê bình tập thơ rất cụ thể:

Thương Sơn tiên sinh châu bình (viết lời bình bằng mực son); Vĩ Dã tiên sinh tử bình (viết lời bình mực tía); Trương Quảng Khê tiên sinh lam bình (viết lời bình mực xanh lam); Phạm Lương Khê tiên sinh lục bình (viết lời bình bằng mực xanh lục); Nguyễn Nhiệm Sơn tiên sinh mặc bình (viết lời bình bằng mực đen).

Đề là đề như vậy, nhưng ruột sách in chỉ có một mầu mực đen thôi, chứ làm gì có năm mầu in trên trang sách? Mai Am là con gái vua Minh Mạng, tức là thuộc loại ngang vai mẹ vai bà của Tự Đức (1848 - 1883), vào năm 1867, mà còn phải chịu in một mầu đen như thế, thì phỏng vì lý do gì mà chỉ 4 năm sau (1871), Tự Đức lại có thể cho in mầu tác phẩm Truyện Kiều của "hàng thần" Nguyễn Dủ! Chẳng qua, đây chỉ là cách đề bìa sách bắt chước lối của Trung Quốc mà thôi.

Như trên kia, chúng tôi đã nhắc tới "Đỗ Công bộ tập" của Đỗ Phủ in vào năm Đại Quang Giáp Ngọ (1834). ở bộ sách này, từng bài thơ của Đỗ Phủ đều được in xen kẽ các lời bình và dấu chấm câu của năm nhà bằng sáu mầu mực khác nhau đúng như giới thiệu ở tờ đầu cuốn sách. Lời bình của ai in mầu tía, của ai in mầu lam, của ai in sonđen, của ai in mầu lục, mầu vàng nhất nhất đều được in các mầu đúng như sách đã đề.

Chi tiết này rất thú vị. Nó nói lên rằng: Một là, vào đời Tự Đức, ở ta chưa có kỹ thuật in tinh xảo như thế. Hai là, vào nửa sau thế kỷ 19, với công chúa Mai Am (1867) và đầu thế kỷ 20 với Kiều Oánh Mậu (1902), việc cuốn sách được in ra chỉ là do sự thôi thúc của cá nhân, muốn truyền bá là chính, chứ việc in sách chưa hẳn là một hoạt động kinh doanh. Tuy chỉ in một mầu mực thôi, nhưng phải ghi rõ nguyên bản chép tay có mấy mầu để người đọc ngầm hiểu rằng: Cuốn sách in mà người đọc cầm trên tay kia không phải là "của xịn" là thứ độc bản gia bảo mà đó chỉ là bản được nhân bản hàng loạt để lưu truyền - còn thứ "của xịn", bản gốc thì chỉ một người sở hữu. Với Mai Am, đó là tập thơ chép tay của bà còn ghi từng mầu mực phê bình của khách văn thơ trong ngoài nước. Với Kiều Oánh Mậu, đó là bản chép tay do bạn tặng, có những hai màu mực của hai người phê bình.

Vậy ta có thể chắc chắn mà nói rằng: thuật ngữ bản Kinh của Kiều Oánh Mậu đã mang hàm nghĩa xác định: Đó là bản chép tay của công tử họ ngoại nhà vua, do Đào Nguyên Phổ tặng ông vào năm 1898. Từ sau khi "Đoạn trường tân thanh" được Kiều Oánh Mậu cho in và phát hành rộng rãi, hai khái niệm bản Kinh, bản Phường, ông dùng nghiễm nhiên được xã hội chấp nhận. Không ai thấy cần thiết phải biện bạch tìm hiểu ngọn nguồn hai khái niệm thuật ngữ văn bản này... Nhưng cho đến nay, cái "bản Kinh" mà Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Lê Văn Hòe dùng là bản nào, lý lịch xuất xứ của nó thế nào, có ai biết được?

Trước đây, do tin rằng có một "bản Kinh" do Tự Đức đưa in vào năm 1871, nên các nhà nghiên cứu Truyện Kiều chỉ có thể hình dung diện mạo của bản Kinh qua lời chú của Kiều Oánh Mậu.

Nhưng đến nay một khi mà chúng ta không còn lấn cấn gì về cái truyền thuyết Tự Đức đã cho in Truyện Kiều, một khi mà cơ sở tư liệu của Nguyễn Thạch Giang đã không đứng vững thì bản Kinh thực chất chỉ là những bản chép tay có nguồn gốc trong Kinh đô Huế có nội dung khác nhau mà từ Kiều Oánh Mậu đến Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim, Lê Văn Hòe mỗi người đều có một bản của riêng mình.

Và như thế bản của Nguyễn Doãn Cử (1821 - 1890) - một ông quan trong phủ Tôn nhân triều Tự Đức (1848 - 1883) mang từ Kinh về năm 1880 khi hưu quan, cũng chính là một bản Kinh đáng chú ý. Đó là bản Kiều ở Thái Bình - quê vợ Nguyễn Du mà chúng tôi đã sơ bộ giới thiệu trên tuần báo Văn Nghệ các số 11, 18 năm 1995 và số 11 năm 1996. Đây là một trong những bản Kinh mà đến nay chúng ta có được. Nó thuộc loại văn bản quý hiếm. Đúng như học giả Đào Duy Anh đã viết cách đây 19 năm: "Ngoài các bản Nôm in, còn có các bản Nôm chép tay. Hiện nay tìm các bản chép tay tại các gia đình rất khó"(). Chúng tôi muốn nói thêm rằng: bản chép tay của các vị đã làm quan ở triều đình Huế mang về còn khó tìm hơn.

Đây chưa phải là lúc chúng tôi trình bày cụ thể các loại văn bản Kiều Nôm chép tay mà chúng tôi có được cũng như diện mạo của "bản Kinh" của Nguyễn Doãn Cử. Nhưng một nhận xét có thể đưa ra ngay ở đây là: Do còn lướng vướng trông chờ vào một bản kinh vốn không có lại tưởng bị mất, nên trong khi nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu đã mâu thuẫn nhau và mâu thuẫn với chính mình.

Một vấn đề khác là: Theo thống kê của Nguyễn Văn Hoàn (1965) rồi Nguyễn Thạch Giang (1972) thì: "Cho đến nay, chúng ta chỉ bằng vào các lời chú trên một số bản Kiều (chủ yếu là bản Kiều Oánh Mậu) mà biết được tổng số câu bản Kinh khác bản Phường là 152 câu - không kể dị đồng giữa các bản Phường. 152 câu này có ghi chú là bản Kinh. Bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim chỉ chú 146 câu" (Thạch Giang Sách đã dẫn. tr.95).

Sự thống kê ở đây cho chúng ta thấy rằng dù có nhiều loại bản Phường, thậm chí có nhiều loại "bản Kinh" khác nhau chăng nữa thì, sau hàng trăm năm các nhà biên khảo so sánh giữa bản Kinh và bản Phường - tính từ Kiều Oánh Mậu đến nay, họ chỉ tìm ra được 152 trường hợp sai khác để khảo dị (mà thực ra, phần lớn chỉ một vài chữ khác nhau trong một câu thơ cũng được tính là một trường hợp (như "cổ lục" hay "có lục", "Tiết vừa con én đưa thoi" hay "Ngày xuân con én đưa thoi"... "hội là đạp thanh" hay "gọi là đạp thanh" v.v...).

Thế thì Truyện Kiều, theo bản Kinh, là 3.258 câu; bản Phường là 3.254 câu. Nếu làm một phép tính tam suất, ta sẽ thấy: cả Truyện Kiều là 22.778 chữ thì, tính về số chữ sai khác, con số 152 chỉ bằng hơn 0,6% (!). Mà theo tôi thống kê, con số 152 này là chưa đúng, nhiều lắm, chỉ là 150 hoặc còn ít hơn nữa)!

Một tác phẩm ra đời sau khi tác giả mất 51 năm mới có bản in (bản Phường, 1871), 82 năm sau mới có bản in - có chú thích khảo dị của Kiều Oánh Mậu mà tỷ lệ sai dị thấp đến như thế thì có là sự kỳ lạ và là điều rất may cho văn học dân tộc và cho riêng Nguyễn Du. Đây là một sai số lý tưởng. Tôi nghĩ rằng sai số này thậm chí còn thấp hơn rất nhiều một vài cuốn sách, tập thơ in ẩu của mấy nhà xuất bản hiện nay mà tôi đọc được...

Vì sao tác phẩm của Nguyễn Du còn lại với chúng ta hôm nay lại có sai số lý tưởng đến thế, đó lại là một vấn đề thú vị khác.

* * *

Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều mà chủ yếu là xác định đến ngọn nguồn khái niệm bản Kinh, bản Phường là một việc làm rất thú vị. Hiểu rõ được lai lịch về khái niệm của từng loại văn bản trên đây, chúng ta sẽ đỡ đi cái đau đáu thắc thỏm vì cái công án về văn bản Truyện Kiều đã dần dần hình thành trong 95 năm qua và ngày càng trở nên mối băn khoăn cho những người nghiên cứu. Đi sâu vào mọi chi tiết của công án văn bản văn chương này, chúng tôi như đã tìm ra một lối đi cho mình khi đặt chân vào khu rừng văn bản Truyện Kiều, để vững tin vào những câu thơ tài hoa của Nguyễn Du, vững tin vào độ chính xác lý tưởng của văn bản hiện có.

Tôi nóng lòng trông chờ sự thẩm định, chỉ bảo của bạn đọc.

Có thể download miễn phí file . bên dưới
Đăng ngày | Thể loại: BÌNH LUẬN VĂN HỌC | Lần tải: | Lần xem: | Page: | FileSize: | File type:
lần xem

Không có ''bản Kinh'' Truyện Kiều do Vua Tự Đức đưa in, BÌNH LUẬN VĂN HỌC. Bản Kinh lâu nay được hiểu là bản Truyện Kiều do vua Tự Đức sửa chữa và cho khắc in năm 1871. Từ việc nghiên cứu lại bài Tổng từ của Tự Đức nói về Truyện Kiều tới đưa ra những bằng chứng văn bản học,

https://tailieuhoctap.com/baivietbinhluanvanhoc/khong-co-ban-kinh-truyen-kieu-do-vua-tu-duc-dua-in.p4m8tq.html

Bạn có thể Tải về miễn phí này , hoặc tìm kiếm các khác



liên quan