hoặc
Tài liệu học tập Đề thi thử THPT Quốc gia lần 1 năm 2015 môn Ngữ văn trường THPT Thị xã Quảng Trị, Quảng Trị, tại tailieuhoctap.com , bạn có thể tải miễn phí,tài liệu được sưu tầm trên internet và cung cấp miễn phí để các bạn có thể nghiên cứuhọc tập,dạng file , có kích thước 0.00 M nếu không xem đươc do lỗi font bạn có thể tải font vni về để xem,tải liệu Đề thi thử THPT Quốc gia lần 1 năm 2015 môn Ngữ văn trường THPT Thị xã Quảng Trị, Quảng Trị có 0 lần tải về miễn phí. Từ khóa tìm kiếm ,Học tập,Luyện thi đại học,Luyện thi đại học khối D,Môn Văn khối D,Đề thi thử đại học môn Văn có đáp án

tailieuhoctap.com xin giới thiệu đến các bạn đề thi thử THPT Quốc gia lần một 5 2015 môn Ngữ văn trường THPT Thị xã Quảng Trị, Quảng Trị. Tài liệu này bao gồm đề thi thử môn Văn có kèm theo đáp án, hi vọng sẽ giúp các bạn ôn thi THPT Quốc gia, luyện thi đại học môn Văn tốt hơn. Mời các bạn cùng tham khảo.

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn

SỞ GD&ĐT QUẢNG TRỊ 
TRƯỜNG THPT THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

 

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2015
Môn thi: NGỮ VĂN
ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 180 phút
(không kể thời gian phát đề).

Câu I (3 điểm).

a. Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:

"Chưa bao giờ cô Tơ thấy rõ cái khổ đau ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn bực tức, dường như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kiết (kết tụ lại) cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là 1 cái tâm sự không tiết ra được. Nó là nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than vãn của 1 tình cảnh tri âm... Nó là niềm vang dội quằn quại của các tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cỡ cuối thu đầm đìa mưa ẩm và nhức nhối xương tủy. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành....Nó là cái oan uổng nghìn đời của đời sống thanh âm. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím"

(Trích từ Chùa đàn - Nguyễn Tuân)

  1. Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Dấu hiệu để nhận mặt phong cách ngôn ngữ ấy? (0,25 đ)
  2. Đoạn văn này giúp anh/chị nhớ tới tiếng đàn của các nhân vật trong các tác phẩm đã học nào ở chương trình Ngữ Văn THPT? Hãy trình bày nét tương đồng với tiếng đàn trong các tác phẩm đó. (0,năm đ)
  3. Biện pháp tu từ cốt tử nào đã được tác giả sử dụng trong việc miêu tả tiếng đàn ? Tác dụng của biện pháp tu từ ấy? (0,năm đ)
  4. Thử đặt đầu đề cho đoạn trích. (0,25 đ)

b. Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:

TRĂNG NỞ NỤ CƯỜI

Đâu Thị Nở, đâu Chí Phèo,
Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao ???
Vẫn vườn chuối gió lao xao
Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền...

Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên.
Khi tình yêu tới bỗng nhiên thành người!
Vườn xuông trăng nở nụ cười
Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau.

Giữa đời vàng lẫn với thau
Lòng tin còn chút về sau để dành
Tình yêu nên vị cháo hành
Đời chung bát vỡ lẽ thơm lành lứa đôi!

(Thơ của Lê Đình Cánh )

  1. Xác định thể thơ? Cách gieo vần? (0,25 đ)
  2. Bài thơ giúp anh/chị liên tưởng tới tác phẩm nào đã học trong chương trình phổ thông? (0,25 đ)
  3. Câu thơ: “Khi tình yêu tới bỗng nhiên thành người” có ý nghĩa gì? Liên quan các nhân vật nào trong tác phẩm vừa liên hệ ở câu hai. (0,25 đ)
  4. Vị cháo hành được nhắc đến trong 2 câu thơ cuối là 1 chi tiết nghệ thuật đặc nhan sắc trong tác phẩm nào của Nam Cao? Hãy viết 1 đoạn văn ngắn khoảng 15 câu bình luận chi tiết nghệ thuật này? (0,75 đ)

Câu II (3 điểm).

“Người nấu ăn, người quét rác cũng như thầy giáo, kĩ sư, giả dụ làm tròn trách nhiệm thì đều quang vinh như nhau”. (Hồ Chí Minh).

Anh/chị hãy viết 1 bài văn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về lời dạy của Bác Hồ.

Câu III (4 điểm).

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” - Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” - Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ đó, trình bày suy nghĩ của mình về việc bảo vệ phong cảnh thiên nhiên của quê hương, sơn hà.

Đáp án đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn

Câu I (3 điểm).

Câu I. a.

1. Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Dấu hiệu để nhận mặt phong cách ngôn ngữ ấy? (0,25 đ)

  • Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
  • Dựạ vào các đăc trưng nhận mặt phong cách ngôn ngữ đó (nêu đúng 3 đặc trưng).

2. Đoạn văn này giúp anh/chị nhớ tới tiếng đàn của các nhân vật trong các tác phẩm đã học nào ở chương trình Ngữ Văn THPT? Hãy trình bày nét tương đồng với tiếng đàn trong các tác phẩm đó. (0,năm đ)

  • Thúy Kiều trong Truyện Kiều, Lor- ca trong Đàn ghi ta của Lor- ca. (0,25)
  • Tiếng đàn gắn với nổi đau thân phận. (0,25)

3. Biện pháp tu từ cốt tử nào đã được tác giả sử dụng trong việc miêu tả tiếng đàn? Tác dụng của biện pháp tu từ ấy? (0,năm đ)

  • So sánh, nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc (0,25)
  • Giúp cho đoạn văn giàu hình ảnh, nhạc điệu, sinh động, hấp dẫn hơn trong việc đặc tả các cung bậc tiếng đàn. (0,25)

4. Thử đặt đầu đề cho đoạn trích. (0,25 đ)

  • Cung bậc tiếng đàn, Tiếng đàn đáy...

Câu I. b.

1/ Xác định thể thơ? Cách gieo vần? (0,25 đ)

Thể thơ lục bát; vần chân và vần lưng.

2/ Bài thơ giúp anh/chị liên tưởng tới tác phẩm nào đã học trong chương trình phổ thông? (0,25 đ)

Giúp ta liên tưởng đến truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao.

3/ Câu thơ: “Khi tình yêu tới bỗng nhiên thành người” có ý nghĩa gì? Liên quan các nhân vật nào trong tác phẩm vừa liên hệ ở

Câu hai. (0,25 đ)

Câu thơ cho thấy tình yêu có sức mạnh cảm hóa con người và làm cho con người trở nên thực sự trở nên người hơn. Trong tương quan với “Chí Phèo” của Nam Cao, câu thơ của Lê Đình Cánh cho thấy sức mạnh tình yêu với biểu trưng bát cháo hành mà Thị Nở dành cho Chí đã khiến cho phần Người ngủ quên tronng hắn bao lâu nay thức sự thức tỉnh. Chí không còn là 1 con quỷ dữ mà đã khao khát quay về làm người lương thiện nhờ cảm nhận được hương vị của tình yêu.

4/ Vị cháo hành được nhắc đến trong 2 câu thơ cuối là 1 chi tiết nghệ thuật đặc nhan sắc trong tác phẩm nào của Nam Cao? Hãy viết 1 đoạn văn ngắn khoảng 15 câu bình luận chi tiết nghệ thuật này? (0,75 đ)

  • Bát cháo hành là chi tiết nghệ thuật đặc nhan sắc trong tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao.
  • Đoạn văn ngắn khoảng 15 câu bình luận chi tiết nghệ thuật này với các ý chinh :
    • Biểu hiện của sự yêu thương, chăm sóc ân cần, tình người cao đẹp.
    • Nó là nhịp cầu đưa Chí Phèo từ quỷ dữ trở về với xã hội lương thiện, chứng minh cho chân lí: “Chỉ có tình thương mới có thể cứu rỗi cho các vong hồn khổ hạnh.”
    • Mang ý nghĩa nhân đạo sâu nhan sắc.

Câu hai (3,0 điểm)

1, Giới thiệu vấn đề (0,25đ)

2, Giải quyết vấn đề

a. Giải thích (0,5đ)

  • Người nấu ăn, người quét rác, thầy giáo, kĩ sư: các nghề nghiệp khác nhau của con người trong xã hội.
  • Nếu làm tròn trách nhiệm thì đều quang vinh như nhau: nghề nào cũng đáng được trân trọng, tôn vinh khi người lao động đã cống hiến hết mình cho xã hội, làm tròn trách nhiệm của mình.

Ý cả câu: Trong xã hội, không có nghề thấp hèn mà nghề nào cũng cao quý, cũng đáng trân trọng. Người lao động dù là ai, làm nghề gì cũng đáng được xem trọng khi đã đóng góp sức mình cho sự phát triển của xã hội.

b. Bàn luận vấn đề (2,0đ)

  • Nghề nào cũng cao quý: Mỗi nghề nghiệp đều nảy sinh từ nhu cầu xã hội nên có đặc điểm, vị trí riêng, không thể thay thế trong đời sống xã hội.
  • Con người làm quang vinh nghề nghiệp: Làm nghề gì, người lao động cũng cần đa dạng thời gian và công sức, có thế là lao động cơ bắp, cũng có thể là lao động trí óc. Nhưng dù là công việc gì, họ cũng đã đóng góp sức lao động chân chính của mình để xây dựng xã hội. Do vậy, họ đáng được tôn vinh.
  • Phê phán quan niệm lệch lạc của 1 số người: coi trọng lao động trí óc, xem thường lao động chân tay, chạy theo các nghề đem lại lợi ích trước mắt cho bản thân.
  • Mở rộng: Tuổi trẻ thời đại hôm nay có đa dạng cơ hội lựa chọn nghề nghiệp. Sự thành đạt của mỗi cá nhân chính ở sự lựa chọn đúng đắn và biết sống hết mình với nghề nghiệp của mình. Liên hệ việc chọn nghề cho bản thân theo thực tế năng lực, hoàn cảnh trên tinh thần lời dạy của Bác.

3, Kết thúc vấn đề (0,25)

Câu 3. (4,0 điểm)

Yêu cầu chung: Thí sinh biết tính hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để kiến lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; biểu lộ khả năng cảm thụ văn học tốt; biểu lộ trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,năm điểm):

  • Điểm 0,năm điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết công ty thành đa dạng đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và biểu lộ được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.
  • Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa biểu lộ được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có một đoạn văn.
  • Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có một đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có một đoạn văn.

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,năm điểm):

  • Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
  • Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.
  • Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết tính hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (3,0 điểm):

Có thể trình bày theo định hướng sau:

I. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần bàn luận.

II. Thân bài:

1. Nét tương đồng của hai dòng sông:

a/ Sông Đà và sông Hương đều được các tác giả miêu tả như 1 nhân vật trữ tình có tính cách với các vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, biểu lộ tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, sơn hà.

b/ Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ, dữ dội.

  • Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà được biểu lộ qua sự hung bạo và dữ dội của nó trên đa dạng bình diện khác nhau cảnh trí dữ dội, âm thanh ghê rợn, đá sông Đà như đang bày trùng vi thạch trận.
  • Khi chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy dữ dội tựa một bản trường ca của rừng già, tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại....

c/ Sông Đà và sông Hương đều có vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình:

  • Sông Đà: dáng sông mềm mại tựa mái tóc tuôn dài tuôn dài, màu nước đổi thay qua từng mùa, vẻ đẹp hoang vu, cổ kính…
  • Sông Hương: với dòng chảy dịu dàng và đắm đuối giữa các dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Sông Hương còn mang vẻ đẹp của người con gái ngủ mơ màng chờ người tình mong đợi đánh thức. Nó còn được ví như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế...

d/ Cả hai đều được miêu tả qua ngòi bút tài hoa, uyên bác:

  • Tài hoa: hai dòng sông đều được miêu tả trên bình diện văn hóa, thẩm mĩ:
    • Sông Đà là nơi tập hợp hai nét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, uy nghiêm, dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng.
    • Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử gắn ngay lập tức với các nét đặc nhan sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ Huế.
  • Uyên bác: cả hai tác giả đều áp dụng cái nhìn đa ngành, áp dụng kiến thức trên đa dạng lĩnh vực nghệ thuật để khắc họa hình tượng hai dòng sông.

2. Nét độc đáo riêng trong từng hình tượng dòng sông:

a/Sông Đà:

  • Trong đoạn trích, nhà văn tụ họp tô đạm nét hung bạo, dữ dội của sông Đà giống như một kẻ thù độc ác và hung ác -> Thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nước dữ, gió dữ, đá dữ đặc trưng đá bày trùng vi thạch trận chực lấy đi mạng sống của con người.
  • Sông Đà được cảm nhận ở chính nét dữ dội, phi thường, khác lạ: tiếng thét của sông Đà như tiếng thét của ngàn con trâu mộng, đá trên sông đà mỗi viên đều mang một khuôn mặt hung bạo, hiếu chiến...
  • Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm vượt trội sự tài hoa, tài trí của người lái đò. Lúc này đây, sông Đà như một chiến địa dữ dội. Và mỗi lần vượt thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chống chọi với thần sông, thần đá...

b/ Sông Hương:

  • Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của một người con gái xinh xắn, mỏng manh có tình yêu đắm say. Khi ở thượng nguồn, nó là cô gái Digan phóng khoáng, man dại; khi ở cánh đồng Châu Hóa, nó là cô thiếu nữ ngủ mơ màng; khi lại như người tài nữ đánh đàn giữa đem khuya, hay là nàng Kiều tài hoa, đa tình mà lại chung tình, là người con gái dịu dàng của sơn hà.
  • Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ phù sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay.
  • Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông Hương là thủy trình có ý thức tìm về người tình mong đợi. Khi chảy giữa Huế, sông Hương mềm hẳn đi như một tiếng " vâng" không nói ra của tình yêu. Trước khi đổ ra cửa biển, sông Hương như người con gái dùng dằng chia tay người yêu, biểu lộ một nỗi niềm vương vấn với một chút lẳng lơ kín đáo.
  • Thông qua hình tượng sông Hương mang nét đẹp nữ tính, nhà văn biểu lộ nét đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời xứ Huế.

3. Trách nhiệm bản thân trong việc bảo vệ phong cảnh thiên nhiên của quê hương, sơn hà qua hành động cụ thể như: yêu quí, bảo vệ môi trường, quảng bá thắng cảnh…

III/ Kết luận:

  • Qua vẻ đẹp tương đồng của hai dòng sông, ta bắt gặp sự tương đồng độc đáo của hai tâm hồn có tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào với vẻ đẹp của non sông sơn hà Việt Nam.
  • Mỗi nhà văn đều có một phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc biểu lộ hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có các cách nhìn phong phú, nhiều về vẻ đẹp của quê hương, sơn hà mình.
Bấm nút thanks
sau đó bấm Tải xuống

Download tài liệu - chọn link phù hợp để download