hoặc
Tài liệu học tập Luận văn: Thương mại điện tử và chữ kí điện tử, tại tailieuhoctap.com , bạn có thể tải miễn phí,tài liệu được sưu tầm trên internet và cung cấp miễn phí để các bạn có thể nghiên cứuhọc tập,dạng file , có kích thước 0.00 M nếu không xem đươc do lỗi font bạn có thể tải font vni về để xem,tải liệu Luận văn: Thương mại điện tử và chữ kí điện tử có 0 lần tải về miễn phí. Từ khóa tìm kiếm ,Luận văn,Công nghệ thông tin,Luận văn ngành Công nghệ thông tin

Bài luận văn dưới đây với đề tài: Chữ kí điện tử và ứng dụng của chữ kí điện tử, với nội dung và đề tài nghiên cứu này các bạn sinh viên chuyên ngành CNTT có thể tham khảo để sẵn sàng cho đồ án, khóa luận tốt nghiệp sắp đến đây của mình. Chúc các bạn có 1 kỳ báo cáo tập sự thành công!

Luận văn: Thương mại điện tử và chữ kí điện tử

I. Thương mại điện tử và chữ kí điện tử

1. Thương mại điện tử là gì ?

Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, thị trường ảo, E-Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy tính trong chính sách phân phối của tiếp thị. Tại đây 1 mối quan hệ thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng được tiến hành thông qua Internet.

Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm hầu hết các loại giao tiếp thương mại mà trong đó các đối tác giao tiếp sử dụng các công nghệ thông tin trong khuôn khổ chào mời, thảo thuận hay cung cấp dịch vụ. Thông qua 1 chiến dịch quảng cáo của IBM trong thập niên 1990, khái niệm Electronic Business, thường được dùng trong các tài liệu, bắt đầu thông dụng.

Thuật ngữ ICT (viết tắt của từ tiếng Anh information commercial technology) cũng có nghĩa là thương mại điện tử, nhưng ICT được hiểu theo khía cạnh công việc của các chuyên viên công nghệ.

1.một. Định nghĩa

Khó có thể tìm 1 khái niệm có ranh giới rõ rệt cho khái niệm này. Khái niệm thị trường điện tử được biết tới lần đầu tiên qua các công trình của Malone, Yates và Benjamin nhưng lại không được khái niệm cụ thể. Các công trình này nói đến sự tồn tại của các thị trường điện tử và các hệ thống điện tử thông qua sử dụng công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông. Chiến dịch quảng cáo của IBM trong 5 1998 dựa trên khái niệm "E-Commerce" được sử dụng từ khoảng 5 1995, khái niệm mà ngày nay được xem là 1 lãnh vực nằm trong buôn bán điện tử (E-Business).

Các quy trình buôn bán điện tử có thể được nhìn từ bình diện trong nội bộ của 1 doanh nghiệp (quản lý dây chuyền cung cấp – Supply Chain Management, thu mua điện tử- E-Procurement) hay từ bình diện ngoài doanh nghiệp (thị trường điện tử, E-Commerce,...).

Khái niệm cửa hàng online (Onlineshop) được dùng để diễn đạt việc bán hàng thông qua trang Web trong Internet của 1 thương nhân.

Hiện nay khái niệm thương mại điện tử được phần lớn tổ chức quốc tế đưa ra song chưa có 1 khái niệm hợp nhất về thương mại điện tử. Nhìn 1 cách tổng quát, các khái niệm thương mại điện tử được chia thành 2 nhóm tuỳ thuộc vào quan điểm:

Hiểu theo nghĩa hẹp:

Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thương mại điện tử trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các công cụ điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên thông khác.

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận 1 cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như các thông tin số hoá thông qua mạng Internet".

Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc buôn bán được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học công nghệ số".

Hiểu theo nghĩa rộng:

Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao tiếp tài chính và thương mại bằng công cụ điện tử như: đàm luận dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng.

Theo quan điểm này, có 2 khái niệm khái quát được toàn bộ nhất khuôn khổ hoạt động của Thương mại điện tử:

Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng.

Các quan hệ mang tính thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao tiếp sau đây: bất cứ giao tiếp nào về cung cấp hoặc đàm luận hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoả hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, công nghệ công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".

Theo khái niệm này, có thể thấy khuôn khổ hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là 1 khuôn khổ rất nhỏ trong thương mại điện tử.

Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động buôn bán qua các công cụ điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh".

Thương mại điện tử trong khái niệm này gồm đa dạng hành vi trong đó: hoạt động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung công nghệ số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; shopping công cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, trang bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)

Theo quan điểm đồ vật 2 nêu trên, "thương mại" (commerce) trong "thương mại điện tử" không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo cách hiểu thông thường, mà bao quát 1 khuôn khổ rộng lớn hơn đa dạng, do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm đổi thay hình thái hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Theo ước tính tới nay, thương mại điện tử có đến trên một.300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là 1 lĩnh vực ứng dụng.

Các điểm đặc thù của thương mại điện tử so với các kênh phân phối truyền thống là tính linh hoạt cao độ về mặt cung cấp và hạn chế lớn phí tổn vận chuyển với các đối tác buôn bán. Các phí tổn khác thí dụ như phí tổn điện thoại đi động và vận động để thu nhập khác hàng hay phí tổn trình bày giới thiệu cũng được giảm xuống. Mặc dù vậy, tại các dịch vụ vật chất cụ thể, khoảng cách không gian vẫn còn phải được khắc phục và vì thế đòi hỏi 1 khả năng tiếp vận phù hợp nhất mực.

Ngày nay người ta hiểu khái niệm thương mại điện tử thông thường là hầu hết các phương pháp tiến hành buôn bán và các quy trình quản trị thông qua các kênh điện tử mà trong đó Internet hay ít nhất là các công nghệ và giao thức được sử dụng trong Internet đóng 1 vai trò căn bản và công nghệ thông tin được xem là điều kiện tiên quyết. Một khía cạnh quan trọng khác là không còn phải đổi thay công cụ truyền thông, 1 đặc thù cho việc tiến hành buôn bán truyền thống. Thêm vào đó là tác động của con người vào quy trình buôn bán được giảm xuống tới mức tối thiểu. Trong trường hợp này người ta gọi đó là Thẳng tới gia công (Straight Through Processing). Để làm được điều này đòi hỏi phải tích hợp rộng lớn các các tính năng buôn bán.

Nếu liên kết các hệ thống ứng dụng từ các lãnh vực có tính năng khác nhau hay liên kết vượt qua ranh giới của doanh nghiệp cho mục đích này thì đây là 1 lãnh vực ứng dụng truyền thống của tích hợp ứng dụng doanh nghiệp.Quản lý nội dung doanh nghiệp (Enterprise Content Management – ECM) được xem như là 1 trong các công nghệ căn bản cho buôn bán điện tử.

Bấm nút thanks
sau đó bấm Tải xuống

Download tài liệu - chọn link phù hợp để download