Chú ý:Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .
Có thể download miễn phí file . bên dưới

VỀ SÓC TRĂNG THĂM LẠI CÁC NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG

Đăng ngày | Thể loại: Bài viết | Lần tải: | Lần xem: 1 | Page: 1 | FileSize: | File type:
1 lần xem
  Embed   Report

bài giảng VỀ SÓC TRĂNG THĂM LẠI CÁC NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG, Bài viết. .

http://tailieuhoctap.com/baivietbaiviet/ve-soc-trang-tham-lai-cac-ngoi-chua-noi-tieng.m8l10q.html

Nội dung

 

 

     Đã từ lâu rồi, một số ngôi chùa ở Sóc Trăng gần như là điểm đến không thể thiếu được của du khách gần xa. Trong đó, Chùa Dơi, chùa Đất Sét, chùa Kh' leng, chùa Chén Kiểu là bốn ngôi chùa nổi tiếng nhất mà bất cứ ai khi đến Sóc Trăng cũng phải ghé qua một lần. Sóc Trăng là vùng đất có trên 200 ngôi chùa lớn nhỏ của 3 dân tộc Kinh – Khmer – Hoa (dân tộc Khmer chiếm tỷ lệ gần 29% ). Vì thế không có gì lạ khi đặt chân đến Sóc Trăng, hầu như huyện, xã nào cũng có sự hiện diện những ngôi chùa lớn nhỏ khác nhau, tạo nên quần thể kiến trúc đẹp mắt, linh thiêng và tôn vinh các giá trị lịch sử văn hóa truyền thống của vùng đất Sóc Trăng nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

 

 

     Bài viết này xin được giới thiệu với du khách khái quát về bốn ngôi chùa nêu trên.

Chùa Dơi

     Đây được xem là ngôi chùa đầu tiên để du khách đến tham quan. Tương truyền, chùa Mahatup (còn gọi là chùa Mã Tộc) được xây dựng vào thế kỷ XVI. Cách trung tâm thành phố chưa đầy 2km, chùa Dơi là một ngôi chùa đẹp, xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống, có những điểm hoa văn trang trí đặc sắc của người Khmer Nam bộ.

      Chùa gồm 3 công trình kiến trúc chính là chánh điện, sala và nhờ thờ cố lục cả Thạch Chia. Khuôn viên chùa với nhiều cây cổ thụ là điểm trú ngụ của hàng ngàn con dơi như: dơi quạ, dơi ngựa lớn, dơi ngựa Thái Lan... có con nặng lên đến 01kg, sải cánh dài hơn 1,5m nên người dân địa phương quen gọi là chùa Dơi.

     Khi bóng chiều vừa xuống là lúc những đàn dơi buông cánh đi kiếm ăn, bay đi bốn phương tám hướng, tới sáng hôm sau mới về Chùa. Đến đây, du khách không khỏi ngạc nhiên trước vẻ đẹp tự nhiên có thể nói là một vùng đất kỳ bí “đất lành chim đậu”. Năm 1999 Chùa Mahatup được Bộ văn hóa – Thông tin (nay gọi là Bộ VHTTDL) công nhận là di tích kiến lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

     Chùa Dơi tọa lạc tại đường Văn Ngọc Chính, phường 3, TPST.

Chùa Khleang

     Ngôi chùa này được xem là một trong những ngôi chùa cổ nhất tỉnh Sóc Trăng, được hình thành cách nay khoảng 500 năm, gắn liền với những truyền thuyết về địa danh Sóc Trăng. Chánh điện được xây dựng từ năm 1981, được thiết kế có 07 hàng cột ngang ở phía trước, mỗi hàng có 10 cây, trên trần và tường được vẽ nhiều hình ảnh, hoa văn, thể hiện sự hoà hợp giữa Phật pháp và hội hoạ. Du khách đến đây được thưởng thức những hoạt động văn hóa nghệ thuật qua những ngày lễ hội truyền thống như: Tết Chôl chnăm Thmây, lễ hội Đolta, lễ hội Oc om boc và đua ghe Ngo.

     Trong chùa ngoài chánh điện, còn có nhà trưng bày các vật dụng của người Khmer xưa như, những kinh Phật được viết trên lá thốt nốt, giữ gìn và bảo tồn, phát huy nét sinh hoạt văn hoá cổ xưa của dân tộc Khmer. Ngôi chùa được sơn son, thếp vàng. Trông từ xa du khách có thể thấy sự uy nghi, trang trọng với lối kiến trúc hoa văn tinh tế, mang đậm nét Phật giáo Khmer Nam bộ. Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có trường Trung cấp dạy tiếng Pali (tiếng Khmer ) Nam bộ, là nơi đào tạo nhiều vị sư sải ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1990 Chùa Khleang được Bộ văn hóa – Thông tin (nay gọi là Bộ VHTTDL) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

     Chùa Khleang tọa lạc trên đường Tôn Đức Thắng, Phường 5, TPST.

 

Chùa Đất Sét

     Ngôi chùa đã có hơn 200 năm tuổi với tên gọi Bửu Sơn Tự, hầu hết các tượng Phật ở đây đều được làm từ đất sét. Trong chùa còn lưu giữ 1.991 pho tượng Phật lớn nhỏ, được nặng từ đất sét, không chỉ là những bức tượng phật mà còn có những hình hài, linh thú, tháp đa bảo 13 tầng, được tạo bằng đất sét với những họa tiết tinh tế đòi hỏi kĩ thuật tay nghề cao mới làm được.

     Chùa Đất Sét là nơi thờ tự của nhà họ Ngô ở Sóc Trăng vì vậy không có sư sãi ở, chỉ có những người trong họ chăm lo khói hương và giữ chùa. Ngôi chùa đã qua 06 đợi trụ trì cho đến hôm nay. Người có công lớn, xây dựng ngôi chùa là ông Ngô Kim Tòng, người trụ trì đời thứ tư ở ngôi chùa này. Với bàn tay tài hoa chưa học qua lớp mỹ thuật nào, Ông đã dày công xây dựng, nặn lên các pho tượng lớn nhỏ trong chùa chỉ bằng một vật liệu duy nhất là đất sét. Du khách không khỏi ngạc nhiên trước tài năng và sức lao động của ông đã tạo các tác phẩm có một không hai trong các ngôi chùa ở Việt Nam.

     Đặc biệt trong chùa có 04 cặp đèn cầy (nến) nặng tổng cộng 1,4 tấn: 6 cây lớn chưa đốt nặng khoảng 200kg/ cây, và 2 cây nhỏ mỗi cây nặng 100kg được thắp từ khi ông Ngô Kim Tòng mất năm 1970 đến nay vẫn chưa hết. Cây nến lớn ước tính sẽ thắp suốt ngày đêm trong khoảng 80 năm. Ngoài ra, còn rất nhiều điều để khám phá ngôi chùa này như: 03 cái đỉnh đất sét mỗi cái cao 2 mét, tháp đa bảo 13 tầng, cây đèn lục long đăng có 3 chóp đỉnh với 6 con rồng lớn uốn cong, tòa sen 1000 cánh mà mỗi cánh đều có một vị Phật. Tại đây còn có 3 cây hương (nhang) mỗi cây cao 1,5m chưa đốt. Tháng 3/2011, chùa Đất Sét đã được UBND tỉnh Sóc Trăng công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa (thuộc lĩnh vực kiến trúc – nghệ thuật) cấp tỉnh.

     Chùa Đất Sét tọa lạc tại số 163, đường Tôn Đức Thắng, phường 5, TPST.

 

Chùa Chén Kiểu

     Còn gọi là chùa Sà Lôn nằm trên quốc lộ 1A, cách thành phố Sóc Trăng 12km, hướng từ thành phố Sóc Trăng đi Bạc Liêu. Nét đặc sắc ở ngôi chùa là sử dụng những chén, dĩa sứ ốp lên tường trang trí nên có tên gọi là chùa Chén Kiểu.

     Ấn tượng đầu tiên khi đến đây là cổng chùa với 3 ngôi tháp được chạm khắc, đắp nổi với hoa văn và sắc màu rực rỡ mang đậm màu sắc văn hóa Khmer Nam Bộ. Kỹ thuật ốp sứ độc đáo đã tạo nên vẽ đẹp riêng rất ấn tượng của ngôi chùa. Đặc biệt, chùa Sà Lôn còn lưu giữ một bộ Trường kỷ cẩn xà cừ và hai chiếc giường bằng gỗ quý hiếm được chạm, khảm rất tinh tế, nhà chùa mua lại trong phần gia sản của công tử Bạc Liêu năm 1947.

     Cũng như các ngôi chùa khác của người Khmer, chùa Chén Kiểu bao gồm chánh điện, nhà hội và tháp bảo, nơi để sách kinh dạy học. Do khan hiếm gạch men để trang trí nên các vị sư đã vận động nhân dân thu gom các mảnh chén, đĩa kiểu để óp lên tường. Mặt sau chính điện là một mảng tường đắp nổi bởi nhiều chén, dĩa kiểu trông rất đẹp mắt và sắc sảo, nên tên chùa có tên gọi khác là chùa Chén Kiểu.

     Nếu có dịp đến Sóc Trăng, du khách đừng quên ghé thăm những ngôi chùa Khmer cổ kính để hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa cũng như đời sống tâm linh của đồng bào Khmer Nam bộ. Với tiềm năng du lịch văn hóa đặc sắc và đa dạng, hàng năm, Sóc Trăng thu hút rất nhiều khách thập phương đến hành hương và khám phá

PHẬT HỌC 2

Trung tâm Từ thiện Văn hóa Tâm linh Phật giáo Sóc Trăng, còn được gọi là chùa Phật học 2, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 5km theo tuyến đường Phạm Hùng (về hướng huyện Long Phú), thuộc địa bàn phường 5, thành phố Sóc Trăng. Năm 2011 Chùa Phật học 2 được khởi công xây dựng với diện tích ban đầu  là 1,5 ha, đến nay được mở rộng ra 8,5 ha, bao gồm rất nhiều công trình, hạng mục hoành tráng như nhà giữ xe hàng ngàn m2, dãy phòng khách, mỗi phòng sức chứa 15 người được trang bị mái lạnh cửa gỗ kín đáo sạch sẽ dành cho khách thập phương nghỉ ngơi, lưu trú qua đêm miễn phí, hàng trăm chiếc võng được bố trí dưới những tán cây dịu mát sẵn sàng phục vụ cho khách quá giang giấc nghỉ trưa.

 

     

Tượng Phật Thích Ca đài với 6 thủ ấn

     Đây là ngôi chùa có khuôn viên lớn nhất tỉnh Sóc Trăng hiện nay, mặc dù trong giai đoạn còn đang thi công thêm một số hạng mục nữa mới hoàn chỉnh như: chánh điện, ấn Quan Âm, ấn Di Đà… nhưng mỗi ngày, đặc biệt trong các ngày cuối tuần, rằm, mùng một, các ngày lễ lớn Trung tâm đón tiếp hàng chục ngàn lượt du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan. Cũng như các nơi khác, kiến trúc mới của chùa Phật học 2 biến đổi để cho phù hợp với thời đại hiện nay như phật điện ngoài trời thoáng đãng, hạn chế việc đốt nhang bảo vệ sức khỏe.

     Đến với chùa Phật học 2, du khách sẽ tưởng như mình vừa lạc vào công viên giải trí đầy thơ mộng, một thế giới nhân gian đầy huyền ảo, tùy tâm cảnh chuyển, tùy duyên mà cảm nhận, du khách tự lựa chọn cảnh giới mình yêu thích như: câu chuyện nhân quả báo ứng, những câu ca dao tục ngữ, bức tranh đề thơ minh họa giáo dục về tình yêu thương gia đình, lòng thủy chung son sắt; hay những bảng nội quy thể hiện dưới dạng một bài thơ đầy ước lệ, đánh vào ý thức tự giác của con người; những tiểu cảnh mang câu chuyện cổ tích dân gian, toát lên ý nghĩa nhân sinh như: sự tích trầu cau, thằng bờm và phú ông, cây tre trăm đốt, Thạch Sanh chém chằn…; hay trở về nguồn cội, lật lại trang sử vàng của những vị đại anh hùng dân tộc.

     Nổi bật giữa hồ có diện tích 6.000m2 là chiếc Thuyền Bát Nhã không đáy tượng trưng cho trí tuệ, chở 8 vị Phật ngự giữa biển trần, cứu giúp chúng sanh thoát khỏi vòng luân hồi. Tại đây, du khách sẽ cảm thấy tâm hồn thư thái khi tận hưởng những làn gió mát và tự tay cho hàng ngàn con cá đang vẫy đuôi bơi tung tăng óng ánh dưới hồ ăn, xem chúng biểu diễn vũ khúc yên bình, bác ái. Ngắm nhìn vẻ đẹp uy nghi của tượng Phật Thích Ca đài trong tư thế ngồi với chiều cao 7m với 6 thủ ấn mang ý nghĩa kêu gọi sự hòa bình, giáo hóa lòng từ bi chân thật và bao dung ở con người…; ngoài ra còn có tượng Phật chứng quả Nhập Niết Bàn chiều dài 17m; 20 hóa thân của Đức thể Phật Bà Quan Âm.

      Thuyền Bát Nhã

     Đặc biệt, khi dạo quanh khuôn viên chùa chúng ta bắt gặp rất nhiều cây sala được trồng xung quanh. Cây sala thường còn được gọi là cây vô ưu, tha la… loài hoa linh thiêng ý nghĩa gắn liền với cuộc đời Đức Phật Thích Ca. Ngoài ra, trong cuộc sống hàng ngày hoa sala còn là một dược liệu quý. Nhờ chứa các chất kháng sinh, kháng nấm nên sala còn có tác dụng sát khuẩn và giảm đau. Người ta dùng cây sala để chữa bệnh cảm lạnh và đau bụng, còn nước ép từ lá của sala được dùng để chữa các bệnh ngoài da.

     Bước lên khu nhà mát, du khách có thể dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn trước khi tiếp tục cuộc hành trình khám phá các cảnh đẹp tiếp theo. Du khách có thể ngắm nhìn hồ sen tỏa ngát hương với hình ảnh Khương Tử Nha đang ngồi câu cá, lắng nghe dòng nước chảy tí tách từ các tảng đá, phía trên đặt các chum vừa tôn lên nét trang nghiêm nơi cửa Phật vừa cảm nhận không gian yên ả, thanh tịnh lòng người. Bước xuống cầu thang đi thẳng là hình tượng những cái lu, hình tượng ông Địa ngồi để cầu tài lộc, tiểu cảnh thầy trò Tam tạng, hình tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được khắc từ đá nguyên khối, phía dưới là lời bài hát như lời trong kinh phật, với triết lý “Gọi suốt trăm năm một cõi đi về” hay “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau"….

     Cảnh trí nơi đây phảng phất nét quen thuộc dường như ta đã gặp đâu đó trên suốt hành trình dọc ngang đất nước, nhưng khi đi sâu vào tìm hiểu thật kỹ thì chùa này lại mang nét đặc thù riêng, với cách sắp xếp bày trí theo từng nhóm tiểu cảnh rất logic cùng với hàng trăm pho tượng Thú Nhân Thần Phật lớn nhỏ, chứa đựng những triết lý sâu xa. Có thể nói chùa Phật học 2 là tổng hòa sự sáng tạo và trí tưởng tượng vô biên của những kiến trúc sư, họa sĩ tỉnh Sóc Trăng khi tiếp thu và chọn lọc những quần thể chùa nổi tiếng trên cả nước. Nơi đây, mọi lời giáo huấn được hiện diện khắp nơi, từ chỗ ăn, nghỉ, chơi đến nơi vệ sinh; giáo lý của chùa không hề theo khuôn sáo, mà rất tự nhiên, đầy trí tuệ.

     Giờ đây, chùa Phật học 2 không chỉ được mọi người biết đến với một cơ sở từ thiện có chức năng chữa bệnh, nuôi dưỡng người già neo đơn, trẻ mồ côi  mà còn nổi tiếng với một bảo tàng thu nhỏ trưng bày các chuyên ngành văn học nghệ thuật như kiến trúc, mỹ thuật điêu khắc và hội họa, văn học dân gian; vừa giữ vai trò giáo dục đạo đức, văn hóa, lịch sử dân tộc vừa truyền thụ giáo lý… trở thành một điểm đến vô cùng thú vị, du khách nào có dịp ghé Sóc Trăng thì không nên bỏ qua công trình nghệ thuật này.

PHƯỚC LÂM CỔ TỰ - MỸ XUYÊN - SÓC TRĂNG

 

     Chùa Phước Lâm tọa tại số 76, thuộc ấp Chợ Củ, Thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, tọa lạc trên diện tích 9.000 m2. Nhắc đến Mỹ Xuyên là nhắc đến vùng đất Bãi Xàu - thương cảng Nam kỳ lục tỉnh xưa. Từ thế kỷ XIX, Sóc Trăng có nhiều trung tâm mua bán tấp nập như Đại Ngãi (Vàm Tấn), chợ Khánh Hưng. Đặc biệt tại Bãi Xàu, tức chợ Mỹ Xuyên ngày nay, cũng đã hình thành một thương cảng. Bãi Xàu là trung tâm thương mại lớn của vùng Hậu Giang và là một trong 03 thương cảng lớn của vùng đất Nam bộ xưa. Cuối thế kỷ XIX, Bãi Xàu là trung tâm thị tứ của hạt Sóc Trăng, dân cư khu vực này lên đến 6.000 người. Từ tháng 02 đến tháng 6 mỗi năm bình quân mỗi tháng có 250 ghe thuyền từ các nơi của thương buôn Trung Quốc, Mã Lai, Bắc Kỳ... chở hàng đến như vải sợi, tơ lụa, đồ gốm, thuốc lá, thuốc bắc ... và chở đi gạo Bãi Xàu cùng một số sản phẩm khác như cá và khô [1].

 

          

          Ngoài lợi thế phát triển về kinh tế như nông sản, thủy sản, Mỹ Xuyên còn mang dáng dấp của vùng đất có nhiều quần thể kiến trúc đình, chùa, miếu nổi tiếng, độc đáo của ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Trong đó phải kể chùa Khmer Luông Bassac Bãi Xàu, được xây dựng 1892, Chùa Thiên Hậu Quảng Châu, chùa Thiên Hậu Triều Châu, chùa Ông Bổn, chùa Xén Cón tạo nên sự đa dạng về nét văn hóa của địa phương đã góp nên sức hấp dẫn du khách mỗi khi đặt chân đến vùng đất này. Và chùa Phước Lâm là một trong những ngôi chùa có công trình kiến trúc nổi bật, đã gắn kết đạo - đời trở thành một phương châm, một lối sống tốt đời, đẹp đạo.

          Chùa Phước Lâm xưa kia chỉ là một cơ sở thờ tự đơn sơ, do Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Cơ khai sơn vào năm Bính Tuất (1886) thuộc đất công thổ 2, có mặt tiền chánh điện quay về hướng Bắc. Đến năm Ất Tị (1905) Hòa thượng viên tịch, hành đạo ở Chùa được 19 năm. Sau khi Hòa thượng viên tịch, lần lượt các vị Hòa thượng ở nơi khác đến trụ trì nhưng do cơ duyên, các vị Hòa thượng không an trú được bao lâu thì rời đi. Tuy nhiên cũng có các vị cố Hòa thượng: Thích Thiện Mười (Nhứt Ngươn), Phạm Đình Kiên, Quảng Đạt và Hòa thượng Thích Huệ An an trú lâu hơn. Do ngôi chùa bị xuống cấp nặng, đến năm 1940, Hòa thượng Thích Huệ An gợi ý cùng Phật tử đại trùng tu lại chùa và mặt tiền quay lại hướng Đông (hướng ra lộ) để thuận tiện cho Phật tử, bá tánh đến viếng chùa. Chùa được ông Lê Văn Quạnh (ông chủ Quạnh) hợp cùng đồng bào Phật tử địa phương cùng chung lòng, chung sức trùng tu và ngôi chùa đã hoàn thành vào năm 1942. Ngày 15 tháng 10 năm Tân Mão (1951), Hòa thượng Thích Huệ An làm lễ thế phát truyền giới sa di cho vị đệ tử đầu tiên là sư cô Diệu Huệ, người Quảng Đông sang Việt Nam năm Tân Mùi (1931), lúc này sư cô được 19 tuổi. Đến ngày 17 tháng 12 năm Giáp Dần (1974) Hòa thượng viên tịch. Trong suốt quãng thời gian trụ trì chùa, Hòa thượng Thích Huệ An đã ra công khai khẩn đất lá thành đất ruộng được 09 mẫu tại ấp Chợ Cũ, còn 01 khoảnh đất ở ấp Hòa Mỹ do ông Phạm Bình Cân cúng dường cho Chùa, nay dân trong vùng canh tác và làm chủ. Ngoài ra, trong 02 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chùa Phước Lâm còn là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng 3].

          Vào năm Mậu Thìn (1988), được sự giới thiệu của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Hậu Giang tạo mọi điều kiện, giúp Ban hộ tự và Phật tử đồng tâm chí thành thỉnh nguyện Thượng tọa Thích Giác Thời, thế danh là Trần Văn Chiến, sinh năm 1945, tu tại chùa Vạn Hoa, huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang về chùa Phước Lâm làm trụ trì cho đến nay.

          Một năm sau, tức năm Kỷ Tỵ (1989), trong thời gian Hòa thượng khai hoang cây cỏ trong khuôn viên chùa, Hòa thượng đã phát hiện ra ngôi mộ Tổ, trước mộ có kèm theo 01 tấm bia. Tổ thế danh là Nguyễn Văn Thinh, sinh năm 1808, thuộc dòng Lâm tế Chánh tông thứ 39, bia đá do 01 vị Phật tử pháp danh là Hồng Kiều lập dựng. Sau khi khai quật mộ Ngài chỉ còn lại 03 miếng xương sọ, một số xương tay, chân và 01 chiếc răng. Hòa thượng cho xây dựng ngôi Bảo Tháp và hoàn thành sau 02 năm xây dựng và được Chư tôn đức làm lễ nhập cốt sư Tổ vào ngôi Bảo Tháp. Ngoài ra bà con Phật tử có người thân quá vãng, sau khi hỏa táng đều có thể đem đến chùa xin nhập vào ngôi Bảo Tháp, với ý nguyện cầu cho hương linh người thân được nhẹ nhàn siêu thoát.      

      Bước qua cánh cổng, một công trình nổi bật nhất là Đại hùng Bửu điện được xây dựng mới vào năm 2008 và khánh thành vào ngày 28 tháng 02 năm 2013. Đại hùng Bửu điện được xây dựng 01 trệt 1 lầu, bê tông hóa, có kiến trúc hiện đại, gần gũi với người dân Nam bộ. Phía trước có thờ tượng phật Quan Âm ngự trên tòa sen, phía sau trên tượng Phật Quan Âm đề "Đại hùng Bửu điện". Và phần trên lầu chính là chánh điện thờ Phật Tích Ca. Tuy bên ngoài không sử dụng hoa văn và màu sắc nổi bật chỉ sử dụng chủ yếu 2 màu hồng phớt và màu gạch, nhưng khi bước vào trong chánh điện, trên lầu, những đường chỉ hoa văn được tô vẻ trên các bao lam, câu đối và bức trang đắp nỗi trên trần và phía sau bệ thợ Phật là 02 màu vàng và đỏ, làm nổi bật sáng hẳn không gian này. Giống như chánh điện của các ngôi chùa Bắc Tông khác, phần chánh điện luôn thờ Tổ sư Đạt Ma Sư tổ, Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn, Tiêu Diệm, Hộ Pháp, thờ Tam Thế Phật, Phật Thích Ca là vị Phật thờ chính. Ngoài ra, bên trong chánh điện này còn có các bức ảnh kể về sự ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa và quá trình Thái tử ngộ đạo thành chánh quả.

          Ngoài công trình Đại hùng Bửu điện này, các công trình cũng được Thượng tọa Thích Giác Thời còn đầu tư xây dựng, nhằm tạo khung cảnh, và giữ đạo hiếu nghĩa đối với bậc thầy đi trước, gồm: 03 ngôi mộ tháp của 02 vị Hòa thượng Thích Huyền Cơ, hòa thượng Thích Huệ Hạ An và sư cô Thích nữ Diệu Huệ; 01 giảng đường; 01 hậu tổ; 01 phòng Tuệ Tĩnh đường (Phòng Đông y chữa trị từ thiện); 01 ngôi phật thất; 01 ngôi dưỡng lão; 01 tăng xá; 01 quanh cảnh tứ Đồng Tâm; 01 nhà trù; Tôn trí 03 tượng đài: Địa Tạng Vương, Quán Thế Âm lộ thiên; 01 tượng đài Quán Thế Âm và 01 ngọn núi Phổ Đà Sơn; 01 ngôi vãng sanh đường; tôn trí dãy núi và tượng đài Đức Bổn sư Thích Ca, ngồi nhập định 49 ngày dưới cội cây bồ đề; 01 ngôi Miếu bà Chúa Xứ,... 

          Chùa Phước Lâm có 03 điểm khác biệt so với các ngôi chùa khác cùng hệ phái Bắc Tông: Thứ nhất, tuy gọi là chùa nhưng người tu ở đây là người tu theo hệ phái Khất Sĩ (đúng ra là họ tu ở Tịnh xá), nhưng do Hòa thượng Thích Huyền Cơ khai sơn và gọi là chùa, từ đó Ban hộ tự ghi nhớ công lao của Ngài nên không thay đổi tên gọi. Tuy nhiên, việc tụng kinh hay tổ chức việc lễ đều làm theo hệ phái Khất sĩ. Thứ hai, chùa Phước Lâm đều có tăng và ni cùng tu học và hành đạo với sự tôn trọng, hỗ trợ nhau trong hoạt động phật sự và chăm sóc người già, người bệnh tật ở trong chùa. Thứ ba, người âm và người dương sống hòa với nhau. Người quá vãng đều có thể vào chùa nghe kinh kê người âm và người dương sống hòa với nhau, phần mồ mã được nhà chùa chăm sóc cẩn trọng.

          Từ sự khác biệt thứ ba này. Chùa Phước Lâm đã chứng kiến việc tu tập phật pháp rất nhiệm mầu về tâm linh, cụ thể câu chuyện người thân quê ở tỉnh Nghệ An tìm đến chùa Phước Lâm xin nhận hài cốt của liệt sĩ đã bị chôn vùi ở phía sau, trong khuôn viên chùa Phước Lâm suốt thời gian 42 năm (1969-2011). Câu chuyện bắt đầu vào lúc 16 giờ, ngày thứ bảy của năm 2011, chùa được tiếp đón 01 gia đình từ tỉnh Nghệ An vào chùa. Đi đầu là vợ của liệt sĩ Thiếu úy Phạm Văn Chương, hưởng dương 29 tuổi. Vợ ông Chương mang tấm ảnh, 01 lư hương, 01 bảng tổ quốc ghi công, 01 lá cờ nước và 01 cái quách.

          Sau thời gian tiếp xúc, gia đình bắt đầu thuật lại sự việc cho nhà chùa biết, cụ thể là ông Phạm Văn Chương nhập xác về báo cho vợ biết là hiện tại hài cốt ông đang ở chùa Phước Lâm - Mỹ Xuyên - Sóc Trăng. Vào năm 1968, chiến dịch Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, ông Chương được điều vào Nam chiến đấu. Đến năm 1969 ông Chương huy sinh, lúc đó gia đình không biết ông Chương hy sinh ở đâu mà chỉ nhận được giấy báo tử và bằng Tổ quốc ghi công.

          Trong 01 trận đánh, do bị thương ngay ở chân, mất máu nhiều và không đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông Chương đã hy sinh. Ông được đồng đội chôn cất tại gốc cây điệp và hàng ngày vong linh ông Chương vào chùa nghe kinh, kệ. Ông Chương cũng báo thời gian lấy cốt của Ông vào lúc từ 01 giờ đến 05 giờ  sáng ngày hôm sau (chủ nhật). Thượng tọa đã toại nguyện cho gia đình ông Chương lưu lại chùa để hoàn thành tâm nguyện nhận cốt ông Chương đem về quê an nghỉ. Đúng 04 giờ 30 phút sáng, Thượng tọa cùng 02 vị sư và gia đình đi về phía sau chùa. Lúc trời còn đang chưa rạng sáng, giọt sương còn đọng trên ngọn cỏ, ngọn cây, các vị sư và gia đình phải dùng đèn pin để rọi đường đi. Bỗng dưng như có một sức mạnh phi thường, người vợ ông Chương đã 72 tuổi, lại bước nhanh nhẹn khỏe khắng, giống như một người khác hoàn toàn, chứ không phải một cụ bà đang ở tuổi 72 nữa, và mọi người cũng phải đi và chạy nhanh theo bà.

          Khoảng cách từ ngoài đường vào đến phía sau chỗ cây điệp khoảng 150 m. Thượng tọa chú nguyện và thực hiện nghi thức cầu nguyện vừa xong thì vợ của ông Chương liền dùng 2 tay xỏa tóc về phía trước mặt và dùng tay chỉ rồi nói "đây nè Sư". Khi ấy 02 chân của Thượng tọa rung lên chầm chập. Sau lúc bình tâm Thượng tọa tiếp tục nguyện chú Đại Bi thì ổn định thần khí, trở lại bình thường. Xong Thượng tọa dùng len sắn xuống đất, đến len thứ 3 thì đụng nắp khập da bò màu vàng vỡ ra, nằm sâu dưới mặt đất khoảng 5 tấc đất.

          Mọi người bắt đầu đem phần đất trong khập để vào cái quách, lấy khoảng được 1/2 khập thì phát hiện ra miếng vải dù chừng 3 cm vuông nằm ngay giữa, kế tiếp phần đất dưới khập là đất bùn nhảo, nhưng lạ thay lại có hiện tượng la trong đất có nhiều màu sắc, gia đình ông Chương đã ghi chép và chụp hình lưu giữ lại hiện tượng trên.  

          Để chứng nghiệm lại 01 lần nữa thật là linh thiêng, sau phần nghi thức xong, Thượng tọa chú nguyện, người đứng ra hốt cốt nhấn đầu bà Chương vào cái quách và nói "nhập vô, nhập vô". Bỗng dưng, bà vén tóc về phía sau và trở lại bình thường.

          Lúc này gia đình sửa soạn 01 bình hoa, 01 dĩa trái cây (có  05 quả lê, trong đó 04 trái để nguyên và gọt vỏ 01 trái để trên chính giữa) và một số lễ vật cúng trên phần mộ kế bên chú nguyện và khấn thầm, nói rằng "nếu đúng là ông thì hãy ứng về cho mọi người tìm thấy ông". Quả thật linh thiêng, quả lê được gọt bỗng dưng lăn xuống đất ngay chỗ bốc cốt ông Chương. Khi lấy cốt xong là vào lúc 5 giờ 30 phút sáng. Thượng tọa cho phép mang hài cốt ông Chương vào chùa. Đồng thời Thượng tọa cho mời phía chính quyền tại địa phương, gồm Mặt trận Tổ quốc và phòng Lao động - Thương binh Xã hội đến cùng chứng kiến và làm lễ theo nghi thức quy định chung của Nhà nước, ông Nguyễn Văn Thanh là trưởng phòng Thương binh Xã hội huyện Mỹ Xuyên cấp giấy xác nhận việc bàn giao này.

          Sau phần thực hiện lễ nghi thức, đúng 12 giờ trưa, gia đình ông Chương rời chùa và mang hài cốt ông Về Nghệ An [4].

          Ngoài các ngày lễ, vía được tổ chức thường niên theo Phật giáo, chùa Phước Lâm còn tổ chức thêm cũng là sự khác biệt, gồm tổ chức lễ vía Quan Âm 03 lần 01 năm vào ngày 19/2; 19/6 và 19/9 Phật tử kính lễ lạy 500 danh hiệu Quán Thế âm Bồ Tát (Ngũ bách danh Quán Thế âm Bồ Tát); lễ vu lan Phật Thích Ca thành đạo; lễ quý kỵ của sư Ông tạo nên Phước Lâm cổ tự.   

          Ngoài ra, Thượng tọa Thích Giác Thời, là người gắn bó với công tác Phật sự và xã hội nơi đây khá nhiều năm. Thông cảm và chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn bất hạnh, Thượng tọa đã nuôi dưỡng trên 30 người tật nguyền, già yếu neo đơn, bằng công sức tâm huyết của mình và sự hỗ trợ của Phật tử gần xa. Thượng tọa còn chủ trì việc xây dựng cầu đường vào chùa với kinh phí vận động đóng góp hàng trăm triệu đồng.

          Hàng năm, Thượng tọa Thích Giác Thời còn tổ chức các khóa tu Phật thất hướng đến ngày vía Đức Phật A Di Đà vào mùa Hè cho con em Phật tử. Tại đây các em đã được hướng dẫn vui chơi ca hát, học tập các oai nghi tế hạnh, thực tập ngồi Thiền tịnh tâm. Tham dự các buổi thuyết giảng của chư Tôn đức giảng sư. Phương pháp thực tập phát triển tiềm năng của tư duy, thực tập phương pháp Quản trị đời mình qua tư tưởng đạo đức của Phật giáo, nâng cao đời sống hướng thiện, học tập những thói quen tốt để phát triển thành nhân cách tốt… Tất cả đều hướng đến mục đích vận dụng tư tưởng giáo dục và đạo đức của Phật giáo ứng dụng vào đời sống thường ngày. Thông qua những hoạt động này để mọi người cùng phát huy tinh thần trách nhiệm đối với tự thân và cộng đồng, nâng cao nghệ thuật sống: sống Khỏe, sống có Ích, sống Hạnh phúc và sống An lạc.

NGÔI CHÙA NƠI XỨ BIỂN

 

     Đến gần trung tâm xã Lạc Hòa (TX. Vĩnh Châu), từ xa, chúng ta đã dễ dàng nhìn thấy ngọn tháp cao xây dựng mô phỏng kiến trúc Trung Hoa cổ, đỉnh tháp đặt tượng Phật Thích Ca đang một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất - đó chính là ngọn tháp của chùa Hải Phước An. Theo truyền thuyết Phật giáo, khi thái tử Tất Đạt Đa đản sinh, ngài đã đi bảy bước, dưới mỗi bước chân nở một đóa sen nâng gót. Đến bước cuối cùng, tay chỉ trời, tay chỉ đất, ngài dõng dạc cất cao tiếng sư tử hống: Trên trời dưới trời, ta là bậc tôn quý hơn cả…

 

    

      Theo cụ ông Triệu Vinh Quang - phật tử lâu năm của chùa Hải Phước An, chùa do hòa thượng Long Trì (tục danh Châu Ngọc Phò) khai sơn tạo lập. Lúc đầu, hòa thượng xây dựng chùa bên Giồng Nhỏ (nay thuộc ấp Vĩnh Biên, xã Lạc Hòa) cách vị trí hiện nay gần 1 km. Trước đó, hòa thượng Long Trì có tham gia kháng Pháp nên đợi một thời gian, tình hình lắng dịu, thực dân Pháp thôi lùng bắt, ông mới cho di dời chùa sang địa điểm hiện nay (ấp Ca Lạc, xã Lạc Hòa) có đông dân cư hơn để tiện bề hoằng pháp. Trải qua hơn trăm năm, chùa Hải Phước An đã được nhiều lần trùng tu, tôn tạo, mà lần cuối cùng là lần đại trùng tu vào năm 2002 dưới thời vị trụ trì tiền nhiệm là Đại đức Thích Minh Thông. Ròng rã 12 năm trùng tu, đến năm 2014, chùa mới chính thức khánh thành và có diện mạo như hiện nay.

     Chánh điện chùa được xây dựng là một khối kiến trúc 2 tầng với 4 lớp mái chùa có đầu đao cong vút trang trí rồng và quỳ long (rồng tạo hình cách điệu thành hoa lá) quay đầu ngưỡng triều pháp luân (bánh xe pháp - một biểu tượng của Phật giáo). Giữa chánh điện là ngọn tháp cao mà chúng ta đã thấy từ xa, vì vậy, để trèo lên được ngọn tháp này, phải bước qua 2 tầng của chánh điện. Ngay lối ra vào của chánh điện được bày trí một tượng Phật Di Lặc với dáng ngồi thoải mái, một tay cầm ngọc như ý, một tay cầm tràng hạt, miệng cười tươi trông rất vui vẻ. Tầng dưới chánh điện thờ Phật Thích Ca, phối thờ 2 vị Bồ tát Quán Thế Âm và Địa Tạng Vương. Hai bên thờ Thiên Hậu Thánh mẫu và Ngọc Hoàng. Tầng trên thờ tự chính  bộ tượng Tuyết Sơn Tam thánh với Phật Thích Ca ở giữa và 2 vị tôn giả Ca Diếp, A Nan Đà ở 2 bên. Phía trước là các tượng nhỏ hơn: Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh và bộ tượng thất Phật Dược Sư. Gian sau thờ Đạt Ma Tổ sư, Lục tổ Huệ Năng và Quan Thánh Đế quân.

     Ngọn tháp của chùa có đến 7 tầng, 2 tầng dưới thờ nhiều bức tượng có phong cách dân gian Tây Nam bộ là các tượng thờ từ trước đợt đại trùng tu, như: Phật A Di Đà, các vị Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Địa Tạng Vương, Chuẩn Đề, Huyền Thiên Thượng đế, bộ tượng 4 thầy trò Đường Tam Tạng và 3 trong số thập điện diêm vương (Tần Quảng Vương, Diêm La Vương, Chuyển Luân Vương)… Những tượng thờ này có cả các vị thần, thánh của người Hoa trong Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Điều này cho thấy chùa Hải Phước An có sự du nhập và tiếp biến văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa nơi đây trong quá trình cộng cư lâu dài của 3 dân tộc anh em Kinh - Khmer - Hoa. Năm tầng tháp còn lại thờ tượng Phật Thích Ca ngồi thiền bằng đá trắng, có lẽ các tượng này được thỉnh về thờ tự sau đợt đại trùng tu. Càng lên tầng tháp cao, không gian cũng càng nhỏ lại, pho tượng được thờ cũng có kích thước nhỏ hơn. Dù đang là buổi trưa nóng bức nhưng ở các tầng tháp cao này, không khí lại khá mát mẻ, khi mở cửa sổ ra, có thể nói đúng là “bốn bề gió lộng”. Phóng tầm mắt nhìn ra xa, những mảng xanh của rẫy trồng hành xen lẫn những vuông tôm khiến cho quang cảnh cứ như một bàn cờ vua. Nhìn ra xa hơn nữa, đường chân trời tiếp nối với biển tạo nên một bức tranh thật tươi đẹp và hùng vĩ.

     Khuôn viên chùa Hải Phước An khá rộng rãi với nhiều hàng cây cao cho bóng mát. Ngay trước chánh điện là Bát Giác Liên Hoa trì, tức là ao sen trên có đình tám cạnh thờ Quán Thế Âm Bồ tát. Ở một khoảng không gian khác là Đài 48 đại nguyện với tượng Phật A Di Đà cao khoảng 7-8m và 48 bức tượng phật đứng xung quanh có kích thước nhỏ hơn tượng trưng cho 48 đại nguyện Phật A Di Đà tạo ra khung cảnh thật hùng tráng và trang nghiêm. Với cảnh trí đặc sắc của mình, chùa Hải Phước An xứng đáng là điểm đến tham quan, du lịch tâm linh hấp dẫn khi có dịp đến với TX. Vĩnh Châu.

VÀI NÉT VỀ CHÙA SALA PHÔTHI VÀ TRUYỀN THUYẾT CÁ ÔNG

 

     Thị xã Vĩnh Châu có 43 km bờ biển, là nơi hội đủ điều kiện để phát triển các nghề nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản và các vùng phát triển nông nghiệp đặc thù nổi tiếng như: nuôi tôm sú, cá kèo, nghêu, artemia, làm ruộng muối, trồng củ cải trắng, củ hành tím, tỏi... Toàn Thị xã có dân số khoảng 170.000 người, gồm ba dân tộc: Kinh, Khmer và Hoa. Trong đó, dân tộc Khmer chiếm khoảng 53%, còn dân tộc Hoa chiếm khoảng 20%. Chính sự đa dạng trong sự cộng cư của ba dân tộc đã tạo cho Thị xã có nét sinh hoạt, văn hóa truyền thống và tín ngưỡng phong phú. Hệ thống chùa chiền của người Hoa và người Khmer là nét đặc trưng riêng khi nhắc đến vùng đất này. Trong đó, phải kể đến ngôi chùa Sala Pôthi với lối hoa văn, kiến trúc nổi bật gắn với truyền thuyết cá Ông, loài cá được ngư dân vùng biển tôn kính hay còn gọi là thần Nam Hải.

 

 

Cổng chùa Sala Phôthi

     Chùa Sala Phôthi có tên đầy đủ Wat Sala Phôthi Sêrey Sakô hay còn được người dân trong vùng gọi là Wat Thmây (chùa Mới). Chùa tọa lại tại khóm Vĩnh Bình, phường 2, thị xã Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng, Chùa được xây dựng vào năm 1938 với tổng diện tích 01 hec ta. Chùa trải qua 12 đời trụ trì và hiện nay do Hòa thượng Thạch Phết làm trụ trì (từ năm 1998) và có 39 vị sư sãi đang tu, học tại Chùa. Trao đổi về nguồn gốc đặt tên chùa, Hòa thượng Thạch Phết cho biết nguồn gốc tên Wat Sala Phôthi Sêrey Sakô xuất phát từ một vùng đất gắn với biển và sự tồn tại hy hữu của cây Bồ Đề. Theo tiếng Khmer cây Bồ Đề gọi là “Pô”, còn theo tiếng Phạn được phiên âm là “Bodhi”, có nghĩa là sự tỉnh thức, sự thông suốt đạo lý. Theo tương truyền, thái tử Tất Đạt Đa đã ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ Đề 49 ngày sau khi thành tựu, đạt thành Đấng Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì vậy, chùa Sala Phôthi còn mang ý nghĩa khác là: nơi Phật thiền định. Hiện tại cây Bồ Đề của chùa vẫn còn ra lá và cành xanh tốt, gần với khu vực lò hỏa thiêu của Chùa. Cây Bồ Đề này không rõ do ai trồng, hay tự mọc và cũng không tính được cây đã bao nhiêu tuổi.    

Chánh điện chùa Sala Phôthi

     Ngôi chùa có 01 cổng chính và 02 cổng phụ. Trong này, cổng chính và 01 cổng phụ nằm trong khu vực Chùa. Còn 01 cổng phụ (cổng ngoài) nằm cặp với Quốc lộ Nam Sông Hậu, sau cổng là đường tráng nhựa dẫn vào làng trong, cách vị trí chùa khoảng 500m. Cổng này có bề ngang lọt lòng khoảng 06m, cao khoảng 12m. Cổng được thiết kế có thêm 02 băng đá ở chân cột, được xây kiên cố dành cho bà con dừng chân. Cổng được sơn 03 màu chủ đạo gồm: màu vàng, nâu và hồng nhạt. Bên dưới được xây vách tường cao khoảng 2,5m, vươn rộng ra 02 bên (kiểu xòe cánh quạt), dài khoảng 04m, mỗi vách có đắp nổi 06 hình tượng thần Hanuman đứng chùng chân, 02 tay đặt ở 02 đầu gối, miệng mở hơi rộng. Khỉ Hanuman là 01 nhân vật trong truyền thuyết của Ấn Độ giáo, Hanuman được coi là biểu tượng hoàn hảo của sự hy sinh và trung thành. Việc thờ thần Hanuman sẽ giúp con người đối diện với chính bản thân mình, trao cho con người sức mạnh, lòng dũng cảm để chịu đựng những thử thách trong cuộc đời. Tại đầu mỗi vách sử dụng hình tượng rắn Nagar 05 đầu dùng trang trí ngay đầu cổng, còn thân rắn được đắp nổi nằm dài và đuôi tiếp giáp với 02 cột cổng. Ở 02 vách cột chính có 02 hình tượng Yeak (chằn) cũng được đắp nổi, đầu đội mão, mình mặc áo giáp, chân mang hài tướng, 02 tay cầm cái chày dài dựng đứng trước ngực, với tư thế uy nghiêm, mắt nhìn thẳng. Bên trên đà ngang, được đề tên chùa theo thứ tự từ trái sang phải gồm 03 thứ tiếng: Kinh, Khmer và Hoa. Bên trên 03 tầng, được thiết kế và xây dựng theo kiểu “cuốn thư”, có 03 nếp và chồng lên nhau 03 tầng và nhỏ dần lên trên, tạo cảm giác chắc chắn và đồ sộ. Ở mỗi bên mép cuốn thư đều có đắp nổi đầu rắn thần Nagar (01 đầu) vươn ra ngoài. Ở giữa là ngọn tháp được xây thẳng lên trên, tạo sự cân đối vững chắc.

Ngôi mộ cá Ông tại chùa Sala Phôthi

     Đi qua cổng là con đường nhựa rộng khoảng 06m, ở 02 bên đường là những thảm màu xanh, trồng củ hành tím của người dân. Đi sâu vào khoảng 300m nữa là gặp khoảnh đất, nơi đặt 02 lò hỏa thiêu của Chùa. Lò hỏa thiêu được xây dựng và có mái che đơn sơ. Ở phần nhà chờ, Hòa thượng có cho vẽ hình 01 người đàn ông và người đàn bà đang ngồi uống trà. Hòa thượng kể rằng “lúc 02 vợ chồng này còn sống ở trong làng, tuy là 02 vợ chồng nhưng ông ở 01 nhà, bà ở 01 nhà và thường xuyên khắc khẩu hay cãi nhau. Đến già và khi mất thì đi ngồi thiền hết rồi, không còn cãi nhau nữa, nên Hòa thượng hóa giải cho 02 vợ chồng hoan hỷ, sống hòa thuận nơi suối vàng”. Hình ảnh này thường gây chú ý cho khách thập phương tò mò, một số người ngưỡng mộ tâm đức của Hòa thượng đã vào thắp nhang, cầu chúc cho đôi vợ chồng họ sống hòa thuận - mỹ mãn.

     Từ lò hỏa thiêu này, hướng mắt về trước là toàn cảnh cây sao, cây thốt nốt và ngôi nhà Sala với phần nóc màu đỏ nổi bật. Đi thêm một đoạn nửa là đến cổng chính được xây dựng vào năm 2004, đề tên bằng chữ Khmer và đọc là Wat Sala Phôthi Sêrey Sakô. Cổng chùa được xây dựng theo cổng tam quan, đây có thể được xem là 01 công trình kiến trúc khá đồ sộ với chiều cao khoảng 15m, bề ngang 8m, lối đi chính lọt lòng 04m. Cổng nổi bật hẳn với các hoa văn có 02 màu: vàng và màu nâu. Ở phần trên được đặt 05 pho tượng thần Maha Prum (thần Bốn Mặt). Pho tượng nơi chính giữa cổng là tượng lớn và cao hẳn so với các pho tượng còn lại. Phía trên mỗi pho tượng được đổ thêm khối bê tông hình lục giác và ở trên cùng là khối hình hồ lô có 04 ngấn và nhỏ dần lên trên, phía đỉnh hồ lô là phần ngọn, được xem là phần tim, dùng để gắn đèn chiếu sáng. Riêng phần hàng rào được xây dựng kiên cố, cao khoảng 02m, được sử dụng nổi bật với hình tượng búp sen, lá Bồ Đề đắp nổi cách điệu và những vòng bánh xe chuyển pháp luân. Bánh xe này có 08 căm tượng trưng cho Bát chánh đạo, gồm có: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.   

Cặp hàm cá Ông

     Bước qua cánh cổng là cả một công trình kiến trúc được tách hẳn với sự ồn ào từ bên ngoài. Những hàng cây sao, cây dầu đứng thẳng tắp che bóng mát. Ngôi chánh điện nằm ngay trung tâm của khuôn viên chùa và các tháp để tro cốt người quá cố. Phía trước ngôi chánh điện có 02 cây cột cờ Phật giáo, 01 ngôi nhà (nhỏ) thờ ông Thiên và 01 ngôi nhà tháp. Ở hai bên trái, phải ngôi chánh điện, mỗi bên có 03 ngôi nhà tháp. Ở lối chính đi lên chánh điện có 07 bậc thang, ở hai bên lối cầu thang được xây dựng kiên cố và đắp nổi hình tượng rắn Nagar 05 đầu dẫn lối. Phần trên cổng đi vào là khối búp sen, có 02 tầng cách điệu, phần viền là thân rắn Nagar (01 đầu) bò từ trên xuống. Ở giữa là Phật Thích Ca Mâu Ni đang ngồi thiền dưới cây Bồ Đề, 02 bên mái cổng vào là 02 nữ thần Keynor dang tay rộng đỡ mái. Ở bậc thứ 2 đi vào chánh điện có 02 lối lên, mỗi lối có 03 bậc thang, cũng được trang trí và đắp nổi hình tượng rắn Nagar 05 đầu. Chánh điện có tất cả là 04 lối vào chính, tương ứng với 04 cột ở phía trước và sau, ở các cột này được trang trí cả thân rắn quấn tròn, dài theo thân cột. Chánh điện được đại trùng tu vào năm 2002 với điện tích (12 x 8m), có 09 x 06 hàng cột và có 06 cửa sổ. Chánh điện được bao bọc bởi lớp hàng rào kiên cố và cao hẳn so với mặt đất khoảng 03m. Chùa Sala Phôthi cũng giống như các chùa Khmer khác, có 03 mái chồng lên mái. Phần nóc: có 02 tháp nóc theo chiều dài; chiều ngang có 01 tháp nóc, mái chồng lên mái và nhỏ dần lên trên, ở mỗi đầu nóc được đắp phần đuôi rắn Nagar đưa lên không trung, phần thân rắn bò từ đầu nóc xuống thấp dần đến chân nóc và đặt hình tượng đầu rắn Nagar (01 đầu). Ở giữa là ngôi tháp hình vuông, có 03 tầng và nhỏ dần lên trên, xung quanh tháp được vẽ hoa văn và mỗi góc có 01 đầu rắn Nagar. Phần ngọn là hình tượng bình hồ lô nhỏ dần và trên cùng là một bóng đèn điện tạo ánh sáng. Ở phần mái tiếp giáp với đầu cột chánh điện là hình tượng chim thần Krud dang rộng đôi vai chống đỡ mái chùa. Theo Hòa thượng, ngôi chánh điện cũ có kiến trúc, hoa văn được thiết kế, xây dựng theo phiên bản giống như chánh điện của chùa Mahatup (chùa Dơi - thành phố Sóc Trăng). Do thời gian, ngôi chánh điện bị xuống cấp và chân cột, đà bị yếu, nên Hòa thượng vận động bà con, Phật tử và một số mạnh thường quân xây dựng lại ngôi chánh điện. Hiện nay, Chùa vẫn còn lưu lại những tấm ảnh của ngôi chánh điện cũ được treo trang trọng tại phòng khách. Hòa thượng Thạch Phết cho biết “Kiến trúc, hoa văn của ngôi chánh điện nay, ngoài việc sử dụng một số hoa văn truyền thống của người Khmer Nam bộ, Hòa thượng có phối hợp hài hòa trong việc sử dụng một số mô típ kiến trúc của Ấn Độ và Thái Lan, nhằm làm phong phú và đẹp hơn cho ngôi chùa”.

Cây Bồ Đề gần khu vực chùa Sala Phôthi

     Với sự giao thoa về kiến trúc và hoa văn, không chỉ thể hiện ở phần ngôi chánh điện mà nổi bật nhất là sử dụng hình tượng Thái tử Tất Đạt Đa đang phi Bạch Mã được xây dựng kiên cố tại phần nóc của ngôi nhà Sala. Theo Phật giáo, con ngựa trắng, có tên gọi khác là Kiền Trắc Mã hoặc Kanthaka (hay còn gọi: Kiền - đức, Càn - trắc, Khiên - đặc, Ca - tha - ca) tồn tại vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên, ở Bihar và Uttar Pradesh, Ấn Độ. Đó là con ngựa trắng dài 18 cubit (đơn vị đo chiều dài ngày xưa 1 cubit bằng 45cm 72). Kanthaka là con ngựa hay nhất trong hoàng cung của đức Vua Suddhodana và cũng là con ngựa yêu thích của thái tử Siddhartha. Trong kinh Vimānavatthu có chép: Ngựa Kiền Trắc sinh ra một ngày với thái tử Tất Đạt Đa, tại thành Ca - tỳ - la - vệ. Khi thái tử định xuất gia, Ngài đến vỗ về con ngựa và bảo nó đưa Ngài lên rừng, ngựa Kiền Trắc lấy làm hân hoan. Họ ra đi lúc nửa đêm và đến rạng sáng thì tới cánh rừng cách thành Ca - tỳ - la - vệ rất xa. Họ đã vượt qua nhiều vương quốc nhưng không một ai hay biết bởi bốn vó ngựa đã được chư thiên nâng đỡ nên không phát ra tiếng động. Ngài xuống ngựa, khuyên dỗ Xa Nặc (Channa/người giữ ngựa) đem ngựa trở về hoàng cung. Đưa Ngài lên rừng rồi, lúc trở về, nó chẳng còn muốn sống nữa. Nó nhịn ăn và đến chết và sanh lên cõi trời Đạo Lợi. Như vậy, Hòa thượng cho xây biểu tượng này gọi nhớ về con vật cưỡi của thái tử Tất Đạt Đa trong Cuộc ra đi vĩ đại của Ngài. Ngôi nhà Sala có diện tích (32 x 19m), với 02 tầng được xây dựng khang trang với 02 màu chủ đạo là màu đỏ và màu nâu. Toàn bộ các linh vật như chim thần Krud, tiên nữ Keynor, Hòa thượng Thạch Phết đều xây, đắp tại chỗ, không đổ khuôn rồi treo lên như một số chùa khác. Những hình ảnh kể về quá trình sinh ra, trưởng thành cho đến tu thành Phật và nhập niết bàn của Đức Phật, Hòa thượng đều cho các vị sư đắp nổi, sơn dầu, làm người xem hiểu rõ quá trình tu thành Phật của Thái tử và có cảm giác như cùng trải nghiệm theo lối chân của Ngài.

     Ngoài ngôi chánh điện và nhà tháp để tro cốt của người quá vãng, trong khuôn viên chùa còn có Trường tiểu học phường 2, (có tất cả là 20 phòng, được xây dựng từ 1945 (02 phòng) và bổ sung từ đó đến nay; Trường sơ cấp Pali, được xây dựng từ 1995; thư viện, có 02 loại sách theo 02 ngôn ngữ Việt - Khmer; nhà bếp (47m2), tăng xá có 07 phòng (07 x 03m). Nổi bật là ngôi tháp thờ tượng Phật Thích Ca bằng đá nguyên khối, cao 1,5m, nặng khoảng 3 tấn, do Hòa Thượng Thạch Phết thỉnh từ Campuchia về năm 2013. Đến năm 2015, Hòa thượng tiếp tục thỉnh thêm 01 tượng Phật Thích Ca nữa và đặt thờ trong ngôi nhà Sala.

     Ngoài các công trình trên, chùa Sala Phôthi còn được nhiều Phật tử, du khách thập phương biết đến với ngôi mộ cá Ông.  Ngôi mộ được xây dựng khang trang trong khuôn viên chùa, cách cổng khoảng 50m ở bên tay phải từ cổng bước vào. Cá Ông lên cạn cách chùa khoảng 2km về phía Đông - Nam, vào ngày 11 tháng 10 năm 2013 (nhằm mùng 7 tháng 9 năm Quý Tỵ), cá có chiều dài 12,5m, ngang 2,4m, cao 1,4m, nặng hơn 10 tấn, và lụy lúc 16 giờ 10 phút cùng ngày. Sau khi được sự cho phép của chính quyền địa phương, Hòa thượng Thạch Phết cùng bà con, Phật tử đóng góp công sức, tiền của long trọng tổ chức cung nghinh cá Ông về chùa, xây mộ và tổ chức lễ chôn cất cho cá. Từ đó, hàng ngày đều có khách thập phương đến thắp hương, cầu nguyện cho cá, đông nhất là người dân sống bằng nghề cá hoặc sống gắn với biển. Cao điểm vào các ngày lễ, hội. Chùa thu hút hàng ngàn người đến tham quan chùa và cúng bái mộ cá Ông. Ngoài phần mộ cá Ông được xây dựng thờ cúng bên ngoài, hiện trong chùa còn có thờ 01 cặp hàm cá Ông trong phòng khách của chùa, hàm cao khoảng 02m, được thờ cúng vào ngày 26/4/1935. Hòa thượng cho biết “Hàng ngày, khi du khách và Phật tử đến viếng chùa thì đều đến thắp nhang, vuốt hàm cá Ông rồi bôi lên đầu và trước ngược, cầu nguyện cho bản thân có sức khỏe, gia đình được bình an”.

     Theo lời kể cả của người dân vùng biển, cá Ông là loài cá rất linh thiêng, thường che chở cho ngư dân khi gặp sống gió hay mưa bão. Người đi biển thường xuyên cầu nguyện được “Ông” che chở, đánh bắt thuận lợi. Khi có mưa giông hay bão lớn, Cá xuất hiện dùng thân to khỏe của mình để che chắn, be cho các tàu, ghe từ ngoài khơi vào vùng an toàn thì cá bơi đi. Theo tín ngưỡng của người Việt và người Hoa, cá Ông chính là mảnh pháp y (áo choàng sau) của Quan Thế Âm (hay Nam Hải Bồ tát) quăng xuống biển để cứu giúp cư dân vùng biển trong cơn giông tố giữa biển.

     Theo lệ, người dân vùng biển khi phát hiện được cá Ông mắc cạn, tục gọi là “Ông lụy” thì có bổn phận chôn cất và để tang Ông như để tang chính cha mẹ mình. Xác cá Ông được đem tắm bằng rượu rồi liệm bằng vải đỏ. Xác cá Ông được mai táng trong đụn cát gần biển. Người phát hiện ra cá Ông mắc cạn thì được nhân dân tôn sùng và dưới triều nhà Nguyễn, còn ban ân huệ cho người phát hiện ra cá mắc cạn được miễn sưu dịch 03 năm. Và dân gian có câu: “Thấy Ông vào làng như vàng vào tủ” vì theo tín ngưỡng này, cá Ông lụy và trôi dạt vào làng nào, làng đó muôn đời ấm no, tai qua nạn khỏi.

     Sau vài năm, chôn cất thì dân làng phải cải táng, thường làm vào mùa xuân sang hè rồi đem cốt cho nhập lăng và tế chung. Đối với xương cá Ông to lớn thì dân làng sẽ chờ đủ 03 năm cho xương cốt rã ra rồi mới đem vào hòm để đưa về làng thờ. Với trường hợp cá nhỏ, người ta sẽ cho trực tiếp vào hòm và đem về thờ. Khi tế cá thì dân làng cũng cúng các vong hồn ngư dân chết ngoài biển. Tế xong thì có các tiết mục văn hóa, văn nghệ cùng các trò chơi dân gian được diễn ra.

     Riêng ở tỉnh Sóc Trăng, nhân dân ở vùng Kinh Ba, huyện Trần Đề sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá và tổng số lượng tàu thuyền khoảng 500 chiếc, trong đó có trên 200 tàu đánh bắt xa bờ với công suất trên 90 mã lực mỗi chiếc. Sản lượng hải sản đạt trên 30.000 tấn/năm. Hàng năm, vùng Kinh Ba đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông từ ngày 21 đến ngày 23/3 âm lịch. Ngư dân xứ biển Kinh Ba và các vùng lân cận lại tưng bừng tổ chức lễ hội Nghinh Ông. Từ sáng ngày 21/3 âm lịch, nhân dân vùng biển cùng đông đảo du khách gần xa đã hội tụ về Lăng Ông để bắt đầu lễ hội. Đoàn Đào Thầy (hầu Ông) tiến hành những nghi thức lễ truyền thống sau đó tham gia diễu hành cùng đoàn múa lân rồi lên thuyền ra biển cúng Ông. Thuyền chính sẽ xuất phát đầu tiên theo sau là hàng trăm chiếc thuyền đánh cá của những ngư dân mang theo rất nhiều du khách. Trên đường ra biển, đoàn tiến hành các nghi thức cúng vái, cầu cho mưa thuận gió hòa, ngư dân có mùa bội thu... Tùy thuộc vào khả năng của từng người mà lễ vật cúng cũng có thể khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là xôi, chè, heo quay, vịt luộc, rượu, trái cây cùng hoa tươi,... Sau khi cúng vái xong, đại diện Đoàn nghi lễ sẽ xin keo, xin thành công có nghĩa là Ông đã chứng cho tấm lòng thành của ngư dân. Thuyền chính sẽ phát tín hiệu để các thuyền khác cùng quay vào bờ.

     Đến bờ, Đoàn nghi lễ sẽ diễu hành và hầu Ông về Lăng.  Đúng 07 giờ 30 phút, đoàn sẽ thực hiện các nghi thức rước Ông vào lăng rất trang trọng với phần nhạc lễ, múa lân và dâng lên Ông những sản vật mà ngư dân đã thu hoạch được. Sau đó lần lượt làm lễ cúng Tiên sư, cúng Tiền giảng, và cúng Ông là kết thúc. Sau đó, Ban Trị sự Lăng Ông phân công người mang những lễ vật đã cúng xong ra tiếp đãi quan khách đến thắp nhang cho Ông, mọi người quây quần với chén trà, ly rượu thể hiện tình đoàn kết, khắng khít của nhân dân trong vùng, tính phóng khoáng và lòng mến khách của ngư dân nơi đây. Song song với Lễ thì những hoạt động của Hội cũng diễn ra rất sôi nổi và đầy hấp dẫn thu hút đông đảo mọi người tham gia với những trò chơi dân gian, thi đấu thể thao như: kéo co, bóng chuyền, bi sắt… Vào các buổi tối ở Lăng Ông còn tổ chức hát bội, đờn ca tài tử phục vụ các nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân và du khách. Kết thúc Lễ hội là cảnh đưa đoàn tàu thuyền ra khơi trong niềm hân hoan của ngư dân địa phương và du khách.

     Hiện nay, cùng với việc tổ chức sinh hoạt văn hóa, lễ hội theo Phật giáo Nam tông, chùa Sala Phôthi còn làm lễ cầu an cho cá Ông vào ngày mùng 7 tháng 9 hàng năm. Ngoài ra, nhà chùa còn quan tâm, động viên bà con, Phật tử trong bổn sóc chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo điều kiện cho phòng Giáo dục Đào tạo tổ chức, quản lý tốt việc giảng dạy tại trường Tiểu học Phường 2 và Trường sơ cấp Pali nằm trong khuôn viên chùa; Hòa thượng Thạch Phết đặc biệt quan tâm đến con em hiếu học trong bổn sóc, hàng năm đều dành phần kinh phí riêng để hỗ trợ cho các em, như: tập, sách, mua xe đạp cho các cháu được đến trường.