Bài giảng Phật giáo
TRUYỆN KIỀU QUA CÁI NHÌN PHẬT HỌC
Người biên soạn:
Ngày biên soạn: 04/3/2020
BỐ CỤC BÀI GIẢNG
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
3. NỘI DUNG TRUYỆN KIỀU
CHƯƠNG 2: ÂM HƯỞNG PHẬT GIÁO QUA TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU
1. CHỮ HIẾU TRONG TRUYỆN KIỀU
2. THUYẾT NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO CỦA ĐẠO PHẬT TRONG TRUYỆN KIỀU.


CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử vô cùng rối ren và phức tạp. Đất nước chia đôi, các thế lực phong kiến cầm quyền bị phân hóa, không còn đủ sức ổn định tình hình và lãnh đạo đất nước. Ở Đàng Ngoài, vua Lê chỉ tại vị một cách bù nhìn, quyền hành tập trung trong tay chúa Trịnh. Nhưng chúa Trịnh cũng không còn đủ sức kiểm soát, làm chủ tình hình được nữa. Sự tha hóa về đạo đức, ăn chơi sa đọa của chúa Trịnh đã vắt kiệt sức dân, dẫn đến các cuộc khởi nghĩa chống đối của nhân dân nổi lên khắp nơi cùng với các cuộc chiến tranh liên miên giữa hai nhà chúa đã đưa đất nước vào chỗ suy sụp về mọi mặt, không thể cứu vãn.
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
Năm 1782, chúa Trịnh là Trịnh Sâm mất. Sinh thời, Trịnh Sâm sủng ái thứ phi Đặng Thị Huệ, nên di chúc lại bỏ con trưởng là Trịnh Khải, lập con thứ Trịnh Cán là con của thứ phi Đặng Thị Huệ nối ngôi. Trịnh Khải âm mưu giành lại ngôi Chúa đã dẫn đến nạn kiêu binh làm loạn, làm cho tình hình Đàng Ngoài càng thêm rối ren.
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
Ở Đàng Trong, nội tình chúa Nguyễn cũng không có gì sáng sủa hơn. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nổ ra năm 1771 ở Bình Định liên tiếp thu được thắng lợi làm cho triều đình chúa Nguyễn càng thêm suy yếu. Nhân cơ hội chúa Nguyễn và Tây Sơn đánh nhau, chúa Trịnh xua quân nam tiến, đánh vào mặt bắc của chúa Nguyễn và nhanh chóng chiếm được Phú Xuân, vượt đèo Hải Vân. Chúa Nguyễn phải trốn chạy vào Gia Định và sau đó bị quân Tây Sơn bắt được, tất cả đều bị giết, duy chỉ có Nguyễn Ánh chạy thoát.
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
Chỉ trong vòng mười tám năm (1771 – 1789) kể từ ngày khởi binh, đoàn quân Tây Sơn dũng mãnh do Nguyễn Huệ chỉ huy đã lập được những chiến công vang dội: phía nam diệt quân Xiêm, phía bắc đánh bại quân Mãn Thanh, tiêu diệt hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn, lật đổ vua Lê, lập nên vương triều Tây Sơn, thống nhất đất nước sau hơn hai trăm năm chia cắt.
Thế nhưng vương triều Tây Sơn cũng không trụ vững được lâu. Sau khi vua Quang Trung mất (1792), chế độ Tây Sơn lại dẫm chân vào lối mòn các triều đại phong kiến trước kia, đó là tình trạng sống xa hoa, mâu thuẫn về quyền lợi giữa tập đoàn Tây Sơn phía bắc với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ ở phía nam và tình trạng chia bè kéo cánh với nhau ngay trong nội bộ triều đình do Quang Toản nối ngôi nắm giữ.







1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
Trong nam, chúa Nguyễn Ánh trở lại Gia Định tập hợp lực lượng và dựa vào sự giúp đỡ của người Pháp để phản công lại Tây Sơn. Chúa Nguyễn dùng đất Gia Định làm căn cứ để từ đó liên tiếp đánh chiếm đất đai nhà Tây Sơn mà triều đình Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ đành bất lực. Chúa Nguyễn lần lượt phản công và đến năm 1802 thì đánh ra đến Bắc Hà, chấm dứt vương triều Tây Sơn ngắn ngủi như chính tuổi thọ của vị vua Quang Trung, người anh hùng đã khai sinh ra nó.
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
Chưa bao giờ người dân Việt Nam sống trong một thời đại với quá nhiều biến cố liên tiếp nhau như thế. Những biến cố xảy ra quá nhanh và dồn dập như nhận định của Nguyễn Tài Thư: “…kiêu binh nổi loạn trong phủ chúa Trịnh. Tây Sơn diệt Nguyễn ở Đàng Trong và Trịnh ở Đàng Ngoài. Quân Thanh xâm lược. Quân Thanh đại bại. Quang Trung băng hà, Nguyễn Tây Sơn lung lay. Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn… nhũng biến cố ấy diễn ra nhanh chóng đến mức người đương thời chưa kịp tìm ra nguyên nhân của cái trước thì cái sau đã diễn ra…” [11, 355]


1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
Chỉ trong vòng chưa đầy ba mươi năm mà mấy lần chuyển giao triều đại, mấy lần thay thời đổi thế. Đời sống và tính mạng con người trở nên mong manh hơn bao giờ hết bởi chiến tranh loạn lạc liên miên, không ai kịp để định hướng cuộc đời mình. Nhà thơ núi Hồng Lĩnh sinh ra và trưởng thành trong một giai đoạn lịch sử thăng trầm như thế.
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI ĐẠI NGUYỄN DU
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, còn có biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ. Ông sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất dậu (1765), nhằm niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Lê Hiển Tông, tại kinh thành Thăng Long, trong một gia đình đại quý tộc có thế lực bậc nhất thời bấy giờ.
Nguyễn Du vốn quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Dòng họ Nguyễn của ông là một dòng họ lớn có rất nhiều người làm quan dưới triều Lê-Trịnh. Thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm, làm quan đến chức Tể tướng đương triều. Mẹ ông là bà Trần Thị Tấn, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngân xứ Kinh Bắc, Bắc Ninh.
Dòng họ Nguyễn của Nguyễn Du không chỉ thành đạt về đường hoạn lộ mà còn rất có truyền thống về văn học. Cha ông còn là một sử gia, một nhà thơ. Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản cũng rất giỏi thơ Nôm, từng làm thơ đối đáp với chúa Trịnh Sâm. Một người anh khác mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề, cháu ông là Nguyễn Thiện, Nguyễn Hành đều là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng cả. Sống trong một huyết thống và môi trường như thế nên năng khiếu văn học của Nguyễn Du có điều kiện nảy nở và phát triển rất sớm.
2. THẾ THÂN VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN DU
Tuổi thơ của nhà thơ trải qua những tháng ngày êm ấm trong cảnh vàng son nhung lụa, là cậu ấm của một ông quan lớn đương triều. Nhưng cuộc sống ấy kéo dài không được bao lâu, những biến cố dữ dội của thời đại và của gia đình đã nhanh chóng đẩy nhà thơ ra giữa cuộc đời đầy bão táp.
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
Nguyễn Du lên mười tuổi thì thân phụ là Nguyễn Nghiễm mất. Hai năm sau ông lại mồ côi mẹ. Bốn anh em cùng mẹ với nhà thơ chưa ai trưởng thành. Gia đình bên ngoại không phải là nơi quyền quý giàu sang có thể nương náu được nên mấy anh em Nguyễn Du phải đến ở với người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản, bấy giờ đang làm Tả thị lang Bộ Hình kiêm chức Hiệp trấn xứ Sơn Tây. Nhưng chỉ vài năm sau, địa vị của Nguyễn Khản cũng lao đao, nghiêng ngửa.
Năm 1780, Đặng Thị Huệ, thứ phi của Trịnh Sâm, cùng Hoàng Đình Bảo lập mưu giành ngôi Thế tử của Trịnh Khải cho con mình là Trịnh Cán. Nguyễn Khản ủng hộ Trịnh Khải. Việc bại lộ, Nguyễn Khản bị cách chức và bắt giam. Đến khi Trịnh Khải lên ngôi chúa, Nguyễn Khản được phục chức làm Lại bộ Thượng thư rồi thăng Tham Tụng. Đến khi loạn kiêu binh nổi lên đã kéo đến phá nhà, toan giết chết ông. Nguyễn Khản phải trốn vào phủ chúa rồi cải trang chạy lên Sơn Tây sau đó về quê nhà ở Hà Tĩnh. Trong thời gian đầy biến động này, Nguyễn Du còn ít tuổi vẫn tiếp tục đi học. Năm 1783, Nguyễn Du 18 tuổi, đi thi Hương ở Sơn Nam và đậu tam trường. Sau đó, có lẽ do hoàn cảnh gia đình và biến động xã hội nên ông bỏ luôn không đi thi nữa.
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
Trước đó có một người họ Hà, làm quan dưới quyền Nguyễn Nghiễm, giữ chức Chánh thủ hiệu Hùng hậu quân ở Thái Nguyên, vì không có con trai nên nhận Nguyễn Du làm con nuôi. Sau khi người họ Hà mất, ông được kế chân giữ chức ấy. Năm 1789, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, Nguyễn Du và hai người anh em cùng mẹ theo vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu nhưng không kịp. Nguyễn Du trở về quê vợ ở xã Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình), sống nhờ nhà người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, bấy giờ đang làm quan cho nhà Tây Sơn. Nhà thơ sống ở đây được mấy năm thì về quê nhà ở Hà Tĩnh.
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
Năm 1796, Nguyễn Du lên đường vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An, nhà thơ đã bị viên Trấn tướng của Tây Sơn là Quận công Nguyễn Thận bắt giữ. Nguyễn Du bị giam ba tháng. Sau vì Nguyễn Thận là bạn của Nguyễn Đề, lại mến phục tài năng của nhà thơ nên tha cho ông. Từ đấy, Nguyễn Du về ở hẳn Tiên Điền suốt mười năm sau đó.
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
Tháng 8 năm 1802, Nguyễn Du được triều đình vua Gia Long bổ làm tri huyện Phù Dung (nay là tỉnh Hưng Yên). Vậy là nhà thơ xứ Tiên Điền chính thức đi vào đường hoạn lộ. Tháng 11 năm ấy, thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây). Năm sau, ông được cử lên Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh. Năm 1805, Nguyễn Du được thăng Đông các Điện học sĩ, tước Du Đức hầu. Năm 1807, được cử làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương. Năm 1809, được bổ làm Cai bạ dinh Quảng Bình, đây là chức vụ nhà thơ giữ lâu nhất trong thời gian làm quan dưới triều Nguyễn.
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
Năm 1813, Nguyễn Du thăng Cần chánh Điện học sĩ và được cử cầm đầu phái bộ đi sứ Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815 ông được thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ. Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi, định cử ông làm Chánh Sứ đi Trung Quốc lần nữa để cầu phong nhưng chưa kịp đi thì ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, tức ngày 16 tháng 9 năm 1820, Nguyễn Du mất đột ngột trong một nạn dịch làm chết hàng vạn người trong năm ấy.
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU
Nguyễn Du mất ở kinh thành Phú Xuân, an táng tại xã An Ninh, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên, bốn năm sau cải táng về làng Tiên Điền, quê hương của nhà thơ. Sau khi Nguyễn Du qua đời, nhiều người thương tiếc, đã phúng điếu ông bằng những câu đối ca ngợi ông hết lời, trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến câu:
Nhất đại tài hoa, vi sứ vi khanh sinh bất thiểm. Bách niên sự nghiệp, tại gia tại quốc tử do vinh.
2. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN DU